
TL;DR: Gốm Bát Tràng là nghề gốm lâu đời ở làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm (trước 7/2025), thành phố Hà Nội. Theo sử liệu, vùng đất này mang tên xã Bát và được ghi nhận trong Đại Việt sử ký toàn thư năm 1352; thế kỷ 15, tên Bát Tràng xuất hiện và sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép làng này làm đồ bát chén. Theo Cục Di sản văn hóa, một món gốm đi qua các khâu xử lý và pha chế đất, tạo dáng, phơi sấy, trang trí, tráng men rồi nung, đúc kết trong câu "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".
Gốm Bát Tràng hình thành từ bao giờ?
Gốm Bát Tràng có nguồn gốc gắn với vùng đất bên tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội (trước 7/2025 thuộc huyện Gia Lâm). Theo sử liệu được Bảo tàng Lịch sử quốc gia dẫn lại, vùng đất Bát Tràng mang tên xã Bát và lần đầu tiên được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư năm 1352[1]. Đến thế kỷ 15, tên xã Bát Tràng xuất hiện và được ghi nhận là một làng gốm nổi tiếng; sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380-1442) chép: "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén."[1]
Bài viết này theo cách trình bày của Bảo tàng Lịch sử quốc gia khi phân kỳ gốm Bát Tràng thành bốn giai đoạn: lịch sử hình thành, thế kỷ 14, thế kỷ 15-18 và thế kỷ 19-20[1]. Cách phân kỳ này dựa trên hiện vật sưu tầm, không phải một mốc "khai sinh" duy nhất. Vì vậy, câu hỏi "hình thành từ bao giờ" nên hiểu là: nghề gốm ở đây có dấu vết sử liệu từ thế kỷ 14, còn truyền thuyết về ông tổ nghề được kể theo một mạch khác.
Truyền thuyết tổ nghề kể gì?
Chuyện về gốc nghề được kể theo vài mạch. Báo Nhân Dân thuật rằng khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, đổi tên là Thăng Long, thợ thủ công các làng Bồ, Bát ở Yên Mô (Ninh Bình) tới Bát Tràng mở lò làm gạch, gốm cho các công trình của triều đình[2]. Cục Di sản văn hóa ghi một dị bản: theo truyền thuyết, xưa Bát Tràng có 72 gò đất sét trắng, một số thợ Bồ Bát thời Lý di cư cùng họ Nguyễn Ninh Tràng tới đây lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ Phường (phường đất trắng)[4]. Đây là lời truyền về gốc gác dân cư và tổ nghề, khác với các mốc có văn bản ở trên.
Vì sao Bát Tràng phát triển mạnh từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18?
Từ thế kỷ 15 tới thế kỷ 18, buôn bán giữa Việt Nam với nhiều nước mở rộng và đồ gốm là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Nhờ vậy nghề gốm cả nước, trong đó có Bát Tràng, lớn lên cả về lượng lẫn chất, và Bát Tràng thành một trung tâm làm ra nhiều loại gốm có kỹ thuật, mỹ thuật cao[1]. Hàng nổi tiếng thời ấy là gốm hoa lam, gốm chạm, gốm đắp nổi, gốm men nhiều màu và gốm men rạn, bán cả trong nước lẫn ra nước ngoài[1].
Sang thế kỷ 18, thời cuộc trong và ngoài nước nhiều biến động, ngoại thương của Việt Nam sa sút, gốm xuất khẩu giảm, các trung tâm gốm xuất khẩu một thời phát đạt cứ thế tàn dần. Bát Tràng mất thị trường bên ngoài nhưng còn đứng được nhờ người mua trong nước: đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí, đồ làm theo đơn đặt[1]. Cũng từ đây, cạnh các đề tài quen thuộc, trên gốm Bát Tràng có thêm đề tài lấy từ điển tích Trung Hoa như "Ngư ông đắc lợi", "Tô Vũ chăn dê", "Tam quốc chí", "Bát tiên quá hải"[1].
Làm một món gốm Bát Tràng qua những công đoạn nào?
Cục Di sản văn hóa mô tả quy trình làm gốm ở làng Bát Tràng gồm bảy bước, từ xử lý và pha chế đất, tạo dáng, trang trí hoa văn, phủ men tới nung sản phẩm, đúc kết trong câu "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò"[4]. Các mục dưới đây đi theo mô tả ấy.
Chọn và xử lý đất
Nguyên liệu là đất sét và cao lanh. Ban đầu đất lấy tại chỗ; từ thế kỷ 18 nguồn tại chỗ cạn nên thợ lấy đất ở Sơn Tây, Phúc Yên, Đông Triều và Hải Dương (tên địa phương thời trước), trong đó đất Trúc Thôn được chuộng nhất[4]. Đất được ngâm trong hệ thống bể chứa, thường gồm bốn bể ở độ cao khác nhau: bể đánh, bể lắng, bể phơi và bể ủ; đất làm sạch rồi có thể pha thêm cao lanh hoặc thêm bớt cát tùy loại gốm[4].
Tạo dáng
Thợ tạo dáng trên bàn xoay, nay gắn thêm mô tơ. Sau khi chuốt hình, thợ xén lợi, bắt lợi, cắt chân để món đồ mộc cân đối; đồ cỡ lớn thì be chạch, tức be, nặn, kéo đất mà thành hình[4]. Ngoài vuốt tay, người Bát Tràng ngày nay còn đắp nặn, đúc khuôn, in khuôn và đổ rót hồ[4].
Phơi sấy
Cốt gốm tạo xong được đặt lên bững để phơi, hong trên giá ở chỗ thoáng gió hoặc đưa vào lò sấy. Khi đã cương tay, đồ mộc được ủ vóc và sửa lại cho hoàn chỉnh: cắt gọt chỗ thừa, đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận như vòi ấm, quai, tai đỉnh, khoan lỗ, chuốt nước cho mịn mặt[4].
Trang trí
Thế kỷ 14 - 15, trang trí còn dừng ở khắc chìm, tô men nâu theo lối gốm hoa nâu thời Lý - Trần; sang thế kỷ 16 - 18 có chạm đắp nổi kết hợp vẽ lam, thợ dùng bút lông vẽ thẳng lên sản phẩm[4]. Dòng vẽ lam dưới lớp men trắng xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 14, lúc đầu hoa văn chủ yếu là đường chỉ, hoa lá[1].
Tráng men
Men do thợ tự pha chế. Phổ biến nhất là men tro, chế từ tro trấu, đất sét trắng và vôi; từ men tro, thợ Bát Tràng làm ra năm dòng men đặc trưng: men nâu, men lam, men rạn, men ngọc, men trắng ngà[4]. Thợ quen dùng men ướt và có nhiều cách tráng, như kìm men, quay men, đúc men[4]. Hiện vật ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia cũng cho thấy men trắng, men ngọc, men nâu từ thế kỷ 14[1].
Nung
Đồ mộc hoàn chỉnh được xếp vào lò, cách chồng lò tùy loại sản phẩm, bao nung và kiểu lò. Bát Tràng đã qua nhiều kiểu lò: lò ếch (lò cóc), lò đàn, lò bầu đốt rơm rạ, tre nứa rồi củi; lò đứng đốt than cám; nay các hộ dùng lò ga, lò điện, lò tuy nen[4]. Đốt lò được coi là khâu quyết định thành bại của mẻ gốm: nhiệt phải nâng dần tới mức cao nhất, gốm chín thì hạ từ từ[4].
Các dòng gốm Bát Tràng qua các thế kỷ có gì khác nhau?
Bảo tàng Lịch sử quốc gia phân kỳ gốm Bát Tràng thành bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng về loại hình và kỹ thuật[1].
| Giai đoạn | Đặc trưng chính |
|---|---|
| Thế kỷ 14 | Bát, đĩa, âu gốm men trắng, men ngọc, men nâu; thạp, chậu, chân đèn gốm hoa nâu[1] |
| Nửa sau thế kỷ 14 | Xuất hiện dòng gốm vẽ màu lam bằng bút lông dưới lớp men trắng bóng, hoa văn thô phác, mờ nhạt, được gọi là "tiền men lam"[1] |
| Thế kỷ 15-18 | Gốm hoa lam, gốm chạm, đắp nổi, gốm men nhiều màu, gốm men rạn; phát triển mạnh nhờ xuất khẩu[1] |
| Thế kỷ 18-20 | Đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí, đồ kiến trúc phục vụ thị trường trong nước; xuất hiện đề tài điển tích Trung Hoa[1] |
Sự xuất hiện của dòng "tiền men lam" nửa sau thế kỷ 14 đánh dấu sự ra đời của gốm men lam, và dòng này nhanh chóng đạt trình độ xuất sắc, hoàn thiện về công nghệ, kỹ thuật trong thế kỷ tiếp theo, đưa Việt Nam trở thành cường quốc sản xuất, xuất khẩu gốm sứ đương thời[1]. Đây là một trong những mốc quan trọng nhất khi tìm hiểu vì sao Bát Tràng được nhắc đến như một trung tâm gốm lớn.
Bát Tràng ngày nay được ghi nhận những gì?
Theo báo Nhân Dân năm 2025, làng có hàng trăm nghệ nhân, trong số đó hai người là Nghệ nhân Nhân dân, sáu người là nghệ nhân ưu tú; nhiều sản phẩm gốm sứ của làng được xếp hạng OCOP từ 3 tới 5 sao[2].
Năm 2019, Bát Tràng được công nhận là Điểm du lịch của thành phố Hà Nội[3]. Nghề gốm làng Bát Tràng đã có tên trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; về năm thì các nguồn ghi khác nhau: Cục Di sản văn hóa ghi Quyết định số 4610/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019, báo Văn hóa ghi năm 2022, báo Nhân Dân ghi năm 2023[4][3][2]. Ngày 10/12/2024, lễ hội truyền thống làng Bát Tràng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia[2]. Ngày 14/2/2025, tại Hoàng thành Thăng Long, Bát Tràng nhận chứng nhận thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới; báo Nhân Dân ghi đây là thành viên thứ 67 và gọi là mạng lưới của UNESCO, còn theo VietnamPlus thì lễ đón nhận có Chủ tịch Hội đồng Thủ công Thế giới, tổ chức lập ra mạng lưới này[2][5].
Hội làng có các lễ dâng hương, Tam sinh, Rước kiệu, Cấp thủy, Nhập thủy và Tế thần[2]. Người làng coi đây là dịp nhớ ơn tổ nghề, Thành hoàng làng và những người đi trước[2].
Vì sao cần phân biệt mốc sử liệu và truyền thuyết khi tìm hiểu Bát Tràng?
Khi tra cứu về Bát Tràng, người đọc thường gặp hai loại thông tin trộn lẫn: mốc sử liệu có văn bản dẫn chứng và truyền thuyết được kể trong cộng đồng. Mốc sử liệu gồm tên xã Bát trong Đại Việt sử ký toàn thư năm 1352 và câu chép trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi về làng Bát Tràng làm đồ bát chén[1]. Truyền thuyết gồm chuyện thợ làng Bồ, Bát ở Yên Mô (Ninh Bình) ra Bát Tràng thời vua Lý Thái Tổ dời đô[2], và chuyện 72 gò đất trắng cùng họ Nguyễn Ninh Tràng[4]. Hai loại này không thay thế nhau: một bên là bằng chứng văn bản, một bên là ký ức cộng đồng. Phân biệt được hai loại giúp tránh nhầm truyền thuyết thành sự kiện lịch sử đã được chứng minh.