Chiếu dời đô năm 1010 nói gì về đất Đại La?
Theo bản giới thiệu và dịch nghĩa của Cổng thông tin Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (scov.gov.vn), Chiếu dời đô hay Thiên đô chiếu là văn bản được cho rằng do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô từ Hoa Lư (nay thuộc Ninh Bình) ra thành Đại La (nay là Hà Nội). Đoạn nói về đất đai trong bản dịch nghĩa mà nguồn này đăng có nội dung: thành Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi; địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi; xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa, thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Cần nói ngay một điều để tránh hiểu sai: đây là một văn bản chính trị và văn chương. Lời khen đất là lập luận của người viết nhằm thuyết phục triều thần thuận theo việc dời đô, chứ không phải một biên bản khảo sát địa hình. Cái đứng sau để kiểm chứng lời khen ấy là địa lý thật của vùng đất và các bằng chứng khảo cổ về sau. Bài này đọc Chiếu theo tinh thần đó: xem mỗi ý trong Chiếu ứng với điều gì trong thực tế, và những chữ như "rồng cuộn hổ ngồi" thì giới phong thủy hiểu ra sao.
Vì sao Chiếu phải nói tới chuyện dời đô trước khi khen đất?
Phần đầu của Chiếu lấy việc cũ của nhà Thương và nhà Chu làm lý lẽ. Theo bản dịch của nguồn scov.gov.vn: nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến vua Thành Vương ba lần dời đô; ấy không phải các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời, chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi. Ngược lại, hai nhà Đinh và Lê cứ đóng yên đô thành ở nơi cũ, khiến triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không thích nghi.
Đặt lý lẽ này trước rồi mới khen Đại La là một trình tự có chủ đích. Người viết không bắt đầu bằng địa thế, mà bắt đầu bằng tiền lệ và hậu quả, để khi tới đoạn khen đất thì người đọc đã được đặt vào thế so sánh: ở yên một chỗ hiểm trở là điều đã từng gây hại, còn đổi tới chỗ thuận lợi là việc các triều đại thịnh trị từng làm. Nói cách khác, đoạn khen Đại La là kết luận của một lập luận, không phải một quan sát rời.
"Ở vào nơi trung tâm trời đất" nghĩa là gì trên thực địa?
Đây là câu dễ bị đọc như một khẳng định siêu hình, nhưng đặt cạnh địa lý thật thì nó có nội dung cụ thể. Bài viết của kiến trúc sư Hoàng Xuân Thưởng và Quỳnh Giao trên báo Đắk Lắk (phuyen.baodaklak.vn) mô tả việc dời đô từ Hoa Lư, một vùng đất có địa hình hiểm trở thích hợp với việc phòng thủ, tới thành Đại La nằm ở châu thổ sông Hồng có kinh tế phát triển và nền văn minh lúa nước. Chọn đất đồng bằng để xây kinh đô, theo cách nhìn của bài này, thể hiện chiến lược xây dựng một nhà nước làm chủ một vùng đồng bằng rộng lớn trù phú.
Vậy "trung tâm" ở đây nên hiểu theo nghĩa vị trí thuận lợi trong một vùng đồng bằng đông dân và trù phú, chứ không phải một điểm hình học thiêng liêng nào. Cùng bài báo đó dẫn lại đoạn Chiếu với các chữ "trung tâm trời đất", "rồng cuộn, hổ ngồi", "nhìn sông dựa núi", "rộng mà bằng", "cao mà thoáng" như những nét mà Lý Công Uẩn đã quan sát để viết nên Thiên đô chiếu.
"Rồng cuộn hổ ngồi" có phải một phép đo phong thủy không?
Không. Đây là một thành ngữ cổ của văn chương chữ Hán dùng để khen một vùng đất có thế đẹp, và trong sách loan đầu nó được dùng để tả thế của hai cánh núi đất ôm lấy khu đất chính, chứ không phải một công thức đo đạc cho ra cát hay hung.
Sách Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt (nguồn 5) nói rõ: "Long cuộn Hổ ngồi" là nói Thanh long động mà Bạch hổ tĩnh. Trong cách nhìn của sách này, hai bên của huyệt trường được ví như hai cánh ve sầu ôm lấy huyệt, bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ, giữa hai cánh ấy là minh đường. Sách cũng dẫn lối nói cũ rằng bất kể gọi là Thanh long hay Bạch hổ, cốt yếu là thế ôm ấp và giữ được khí. Bạch hổ thì "nên tĩnh không nên động", nên khi nói "rồng cuộn hổ ngồi" là đang tả một bên động uyển chuyển và một bên tĩnh vững chãi, chứ không phải đang cho điểm một miếng đất.
Cũng cần nói rõ chỗ các sách không thống nhất. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 1 (nguồn 4) lại trình bày theo hướng khác: nhìn từ hướng huyệt, bên trái có núi non uốn lượn và dòng nước quanh co tạo thế ôm ấp là Thanh Long tốt, bên phải có địa thế tương tự, vững chãi và che chở là Bạch Hổ lý tưởng; hình dáng Thanh Long thường được ví như rồng bay uốn lượn mềm mại, còn Bạch Hổ thì mạnh mẽ vững chãi như hổ ngồi. Như vậy nguồn 4 gắn "hổ ngồi" với chính cánh Bạch Hổ, còn nguồn 5 dùng cả cụm "Long cuộn Hổ ngồi" để nói một bên động một bên tĩnh. Hai cách giải thích không mâu thuẫn về tinh thần, nhưng khác nhau ở chỗ cụm từ được gán cho cả đôi cánh hay chỉ cho một cánh. Bài này theo cách đọc của sách Nhập môn loan đầu, tức là đọc cả cụm như một lời tả thế đất, và ghi nhận cách đọc của nguồn 4 như một biến thể.
Điều đáng lưu ý là ngay trong sách loan đầu, các tiêu chí cũng không phải một bảng điểm cố định. Nguồn 5 dẫn lối nói cũ rằng sa sơn Long, Hổ ở xa huyệt trường thì cao một chút không có phương hại gì, quan trọng là "có tình"; triều sơn càng nhiều tầng càng tốt. Nghĩa là cái được nhấn mạnh là thế ôm ấp và sự hài hòa, chứ không phải một con số. Vì vậy, khi Chiếu viết "rồng cuộn hổ ngồi", ta đang đọc một lời khen văn chương có nguồn gốc từ ngôn ngữ loan đầu, không phải một kết luận đo đạc.
Bảng đối chiếu: ý trong Chiếu, địa lý thực tế, cách đọc theo loan đầu
| Ý trong Chiếu (theo bản dịch của scov.gov.vn) | Địa lý thực tế tương ứng theo nguồn | Cách đọc theo loan đầu |
|---|---|---|
| "Ở vào nơi trung tâm trời đất" | Vùng châu thổ sông Hồng, đồng bằng rộng và trù phú, khác với địa hình hiểm trở của Hoa Lư (phuyen.baodaklak.vn) | Vị trí thuận lợi giữa một vùng đông dân, không phải một điểm thiêng hình học |
| "Được cái thế rồng cuộn hổ ngồi" | Địa hình Hà Nội thấp dần từ tây sang đông, từ bắc xuống nam, phía bắc và tây có núi cao như Ba Vì, Thiên Trù (phuyen.baodaklak.vn) | Thanh Long động, Bạch Hổ tĩnh, hai cánh ôm lấy minh đường (Nhập môn loan đầu) |
| "Đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây" | Hà Nội giáp tám tỉnh, có đồi núi, sông, đồng bằng; là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật (phuyen.baodaklak.vn) | Hướng và vị trí tương quan của bốn phía quanh khu đất chính |
| "Tiện hướng nhìn sông dựa núi" | Sông Hồng và các sông Đuống, sông Đà, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đáy, sông Cà Lồ; nội đô có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm (phuyen.baodaklak.vn) | Thế tựa lưng vào cao và nhìn ra nước, tức sơn hậu và minh đường |
| "Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng" | Đồng bằng châu thổ, địa hình thấp dần, độ cao 5 tới 20m so với mực nước biển (phuyen.baodaklak.vn) | Minh đường rộng rãi, bằng phẳng, có nước tụ hoặc chảy êm (Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 1) |
| "Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt" | Vùng đất cao trong đồng bằng, tránh được cảnh ngập lụt thường xuyên | Đất cao ráo là điều kiện nền để dựng đô |
| "Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước" | Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không đi tới mọi miền và các quốc gia (phuyen.baodaklak.vn) | Điểm hội tụ giao thông, tức cái lợi về thế và vị trí |
Vì sao Hoa Lư không còn phù hợp làm kinh đô theo lý lẽ của Chiếu?
Chiếu nêu hai nhà Đinh, Lê đóng yên đô thành ở nơi cũ khiến triều đại không lâu bền, trăm họ hao tổn, muôn vật không thích nghi. Đặt cạnh mô tả địa lý, lý do ấy có cơ sở riêng: Hoa Lư là vùng đất có địa hình hiểm trở, thích hợp với việc phòng thủ, trong khi Đại La nằm ở châu thổ sông Hồng có kinh tế phát triển. Nói cách khác, tiêu chí chọn đất đã đổi: từ chỗ lấy thế hiểm để phòng thủ sang chỗ lấy thế rộng và thuận giao thông để làm chủ một vùng đồng bằng lớn.
Cần lưu ý rằng đây là lý lẽ của người viết Chiếu. Việc quy sự ngắn ngủi của hai triều Đinh, Lê cho vị trí đóng đô là một cách lập luận nhằm thuyết phục, không phải một kết luận lịch sử đã được kiểm chứng độc lập. Bài này ghi nhận nó đúng vị trí của nó: một mắt lập luận trong văn bản, có địa lý thật làm nền phía sau.
Những dấu tích còn lại hôm nay xác nhận điều gì?
Theo Wikipedia tiếng Anh về Imperial Citadel of Thăng Long (nguồn 3), khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới của UNESCO ngày 31 tháng 7 năm 2010, tại kỳ họp ở Brazil, với tên "The Central Sector of the Imperial Citadel of Thăng Long – Hanoi". Việc xây dựng khu này bắt đầu năm 1010 và hoàn thành đầu năm 1011 dưới thời Lý Thái Tổ. Cũng theo nguồn này, phần lớn cấu trúc còn đứng được là từ lần trùng tu lớn thời Gia Long năm 1805, còn phần lớn Hoàng thành về sau bị người Pháp phá để lấy đất làm công sở và trại lính, nên những gì còn lại chủ yếu là di chỉ khảo cổ và các hạng mục đã được phục dựng.
Về tầng khảo cổ, nguồn 3 cho biết các di tích kiến trúc và nền móng của Hoàng thành được phát hiện tại khu vực Hội trường Ba Đình cũ ở số 18 Hoàng Diệu khi công trình này bị dỡ năm 2008 để nhường chỗ cho một tòa nhà quốc hội mới. Trong số hiện vật, nguồn này nhắc tới một viên gạch lát nền bằng đất nung trang trí hoa cúc, có niên đại khoảng thế kỷ 11 tới 12, được coi là dấu hiệu của trang trí cung đình. Nguồn cũng nêu rằng vật liệu còn lại của cấu trúc nguyên bản chỉ gồm nền móng, một hệ thống thoát nước quy mô và các trang trí kiến trúc cung đình, và tới nay chỉ một phần nhỏ của Thăng Long đã được khai quật.
Đây là chỗ nên phân biệt hai loại bằng chứng. Chiếu là văn bản nói về một quyết định đã được đưa ra, còn khảo cổ học cho thấy quy mô và mức độ can thiệp thực tế của con người trên khu đất ấy qua nhiều triều đại. Hai loại bằng chứng không thay thế nhau: Chiếu không chứng minh được rằng vùng đất có long mạch, và khảo cổ cũng không cần tới long mạch để giải thích vì sao người ta chọn nơi ấy.
Đọc Chiếu hôm nay thế nào cho đúng?
Có hai cách đọc đều phổ biến và đều có hại riêng. Cách thứ nhất là đọc Chiếu như một tài liệu phong thủy, biến những chữ như "rồng cuộn hổ ngồi" thành bằng chứng rằng Đại La có long mạch, rồi từ đó suy ra cát hung cho cả vùng. Cách thứ hai là gạt phăng phần ngôn ngữ địa lý trong Chiếu như một lối nói hoa mỹ, để rồi bỏ qua một thực tế là những tiêu chí ấy khá cụ thể: vị trí giữa vùng đông dân, thế tựa cao nhìn nước, đất rộng và bằng, không ngập lụt, thuận giao thông bốn phía.
Cách đọc hợp lý nằm giữa hai thái cực. Các chữ ấy vừa là ngôn ngữ văn chương vừa là tiêu chí chọn đất theo cách hiểu của thời ấy, và mỗi tiêu chí đều có thể đối chiếu với điều kiện tự nhiên thật của Hà Nội. Việc Chiếu dùng ngôn ngữ loan đầu không làm cho nội dung của nó trở thành mê tín, cũng không làm cho nó trở thành một chứng cứ khoa học. Nó là một văn bản chính trị và văn chương, viết bằng ngôn ngữ của thời nó, và nội dung cốt lõi của nó vẫn đứng vững khi nhìn bằng con mắt địa lý: một vùng đồng bằng trù phú, có sông lớn và hệ thủy lộ, đất cao và rộng, thuận cho việc dựng đô và giữ đô lâu dài.
Với người đọc hôm nay, giá trị lớn nhất của đoạn văn ấy có lẽ nằm ở chỗ nó cho thấy người xưa đã quan sát địa hình, dòng nước và vị trí giao thông như thế nào trước khi đưa ra một quyết định có thể ảnh hưởng tới nhiều thế hệ. Các thuật ngữ loan đầu khi ấy là công cụ để mô tả và thuyết phục, và bảng đối chiếu ở trên cho thấy phần lớn những mô tả ấy đều có cái tương ứng trên thực địa.