
TL;DR: Ở Nghệ An, thờ cúng tổ tiên mở ra cả dòng họ và làm tại nhà thờ họ, với lễ yết cáo hôm trước và lễ chính tế hôm sau; trong nhà thờ họ còn có bàn thờ Quốc công, văn chỉ và Thành hoàng làng (khảo sát năm dòng họ, 2023 tới 2024). Làng Kim Lũy thờ ba vị thần ở ba đền, nay rước chung về đền Trang ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch. Đền Cuông thờ An Dương Vương, hội ngày 15 tháng Hai âm lịch. Ba nghiên cứu này không so sánh Nghệ An với tỉnh khác, nên chưa thể nói điều nào chỉ Nghệ An mới có.
Thờ cúng tổ tiên ở Nghệ An diễn ra ở đâu và vào dịp nào?
Theo khảo sát của Nguyễn Thị Thu Lan (2026) tại năm dòng họ thuộc các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Nghi Lộc và Quỳnh Lưu (đơn vị hành chính trước tháng 7/2025), việc thờ cúng tổ tiên ở Nghệ An không dừng trong từng gia đình mà mở ra cả dòng họ, và thường làm tại nhà thờ họ[1]. Nghi lễ có hai phần chính. Lễ yết cáo làm vào chiều hoặc tối hôm trước ngày chính: tộc trưởng hoặc người đại diện dâng hương, rượu, trà để báo với tổ tiên, Thành hoàng bản xứ và Thổ công. Lễ chính tế làm vào ngày chính, khi con cháu ở xa cũng về: dâng hương, đọc chúc văn, dâng cỗ. Các mốc bài nêu là 14 tháng Giêng, rằm tháng Mười âm lịch và ngày kỵ thủy tổ[1].
Một số dòng họ còn giữ tục gánh cỗ, đội cỗ, rước tổ hoặc đánh trống tế; buổi tối có nơi làm lễ cầu an, cầu siêu ngoài trời[1]. Tác giả nhận xét nghi lễ ở đây giản dị, coi trọng lòng thành hơn hình thức. Đó là nhận xét rút từ năm dòng họ được khảo sát, chưa phải số đo cho cả tỉnh.
Trong nhà thờ họ ở Nghệ An thờ những ai?
Cũng theo khảo sát ấy, nhà thờ họ ở Nghệ An thường dựng theo lối ba gian hai chái, mái ngói âm dương. Ngoài bàn thờ tổ tiên, trong nhà thờ họ còn có bàn thờ Quốc công (thờ tiền nhân có công với nước), bàn thờ văn chỉ (thờ tiền nhân có công với việc học) và bàn thờ Thành hoàng làng[1].
Bài nêu 85% số dòng họ có nhà thờ họ, và 35% số nhà thờ họ ấy là di tích lịch sử, văn hoá đã xếp hạng[1]. Mẫu khảo sát chỉ gồm năm dòng họ và 25 người được phỏng vấn, bài không nói rõ hai tỉ lệ này tính trên tập nào, nên chỉ nên đọc chúng như chỉ dấu.
Làng Kim Lũy ở Nghệ An thờ những vị thần nào?
Chu Xuân Giao (2025) nghiên cứu làng Kim Lũy thuộc xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu (đơn vị hành chính trước tháng 7/2025). Làng có ba ngôi đền: đền Cả, đền Trang và đền Cá Ông ở cửa làng phía biển. Đình là nơi hội họp và hành lễ chung, còn thần thì ngự thường xuyên ở ba ngôi đền, mỗi đền giữ bài vị, tượng và sắc phong riêng[2].
Sau năm 1945 các nơi thờ của làng bị dỡ dần, bản thần tích mất, không tìm được bản sao lưu trữ. Làng còn giữ 18 đạo sắc phong gốc nhưng suốt nhiều chục năm không xác định được tên và công trạng của thần. Tới đầu năm 2020, sau công tìm kiếm của ba thế hệ trí thức trong làng, lai lịch các vị thần mới được làm rõ[2].
Theo các sắc phong, thần đền Cả chỉ được gọi là Bản thổ linh quan, không gắn với tên một nhân vật lịch sử; thần đền Trang mang tước hiệu Đô Thái úy Thành Quốc công (sắc năm Cảnh Hưng 44, tức 1783); thần đền Cá Ông là Đông Hải thái thú Đại Ngư ông (sắc năm Khải Định 2, tức 1917)[2]. Nhà văn Sơn Tùng, người biên soạn bản chép và bản dịch các sắc phong, từng cho rằng đền Cả thờ một vị thần thời Lý Nam Đế và đền Trang thờ một vị thần thời khởi nghĩa Lam Sơn; tác giả bài nghiên cứu lưu ý rằng sắc phong của đền Cả không nêu tên nhân vật lịch sử nào.
Ngày nay đền Trang đã được dựng lại và là nơi thờ chung các vị thần của cả ba đền cũ. Hằng năm vào ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch, kiệu thần được rước từ nền cũ của đền Cả và đền Cá Ông về đền Trang, hết hội lại rước về[2].
Đền Cuông và việc thờ An Dương Vương ở Nghệ An có gì đáng chú ý?
Vũ Thị Nhung (2025) khảo sát thực địa giai đoạn 2023 tới 2025 và ghi nhận ít nhất 17 di tích thờ An Dương Vương ở bảy tỉnh, thành, trong đó Nghệ An có hai di tích[3]. Tiêu biểu là đền Cuông trên sườn núi Mộ Dạ (xã An Châu), mặt quay ra biển, được công nhận là di tích lịch sử, văn hoá cấp quốc gia năm 1975. Phía sau đền có lối lên đỉnh núi, nơi có đền thờ Mỵ Châu và tượng Cao Lỗ. Lễ hội đền Cuông tổ chức vào ngày 15 tháng Hai âm lịch, có tế, rước kiệu và trò diễn dân gian[3].
Truyền thuyết kể núi Mộ Dạ là nơi câu chuyện An Dương Vương kết thúc. Theo Vũ Thị Nhung, việc thờ nhà vua nối từ Cổ Loa (Hà Nội) qua Sầm Sơn (Thanh Hoá) tới Mộ Dạ thành một mạng lưới thờ tự liên vùng, trong khi nhiều tín ngưỡng thờ nhân thần ở Việt Nam chỉ gắn với một địa phương[3].
Bảng: ba thực hành thờ cúng ở Nghệ An có nguồn khảo sát
| Thực hành | Thờ ai | Dịp lễ (âm lịch) | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Tế tổ ở nhà thờ họ | Thủy tổ và tiền nhân của dòng họ | Yết cáo hôm trước, chính tế ngày chính; mốc được nêu: 14 tháng Giêng, rằm tháng Mười, ngày kỵ thủy tổ | Nguyễn Thị Thu Lan (2026) |
| Hội đền Trang, làng Kim Lũy | Thần của ba đền cũ: Bản thổ linh quan, Thành Quốc công, Đại Ngư ông | 12 và 13 tháng Hai | Chu Xuân Giao (2025) |
| Lễ hội đền Cuông | An Dương Vương | 15 tháng Hai | Vũ Thị Nhung (2025) |
Những điều này có phải chỉ Nghệ An mới có?
Chưa đủ căn cứ để nói vậy. Thờ cúng tổ tiên và thờ thần làng là nền chung của người Việt.
Phan Kế Bính (1915) viết về người Việt nói chung rằng tục phụng sự tổ tiên rất thành kính, và coi đó là lòng không quên gốc[4]. Đinh Khắc Thuân (2014) cho rằng việc thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam có gốc từ việc thờ Thành hoàng ở Trung Quốc.
Điều ba nghiên cứu trên ghi được ở Nghệ An là: nhà thờ họ có thêm bàn thờ Quốc công, văn chỉ và Thành hoàng làng; một làng thờ cùng lúc thần bản thổ, một vị quốc công và cá Ông; đền Cuông là điểm cuối của mạng lưới thờ An Dương Vương. Không nghiên cứu nào trong số này so sánh với tỉnh khác.
Bài này chưa nói tới những gì?
Bài chưa bao quát tín ngưỡng của các dân tộc ở miền núi Nghệ An, cũng chưa nói tới đền Cờn và nhiều đền, đình khác, vì chưa có nguồn đọc được toàn văn cho các phần ấy.