Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Quẻ Địa Thủy Sư trong 64 quẻ Kinh Dịch: Nguồn gốc, ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Kinh Dịch

TL;DR: Quẻ Địa Thủy Sư (師) là quẻ thứ 7 trong 64 quẻ Chu Dịch, quẻ trên là Khôn (Đất), quẻ dưới là Khảm (Nước). Quái từ chép: "師:貞丈人吉,无咎。" (Sư: trinh trượng nhân cát, vô cữu), nghĩa là quân đội giữ chính bền và dùng người trượng nhân thì tốt, không lỗi. Sáu hào từ nói về kỷ luật khi ra quân, người cầm đầu ở giữa quân, chỗ lui, chỗ giao phó và lúc phân công ban thưởng. Gợi ý của Nhật Nguyệt: có thể đọc quẻ này như một khung tự soi vai trò tổ chức và lãnh đạo, không phải lời bảo đảm kết quả.

Quẻ Địa Thủy Sư là quẻ thứ mấy trong 64 quẻ?

Quẻ Địa Thủy Sư (地水師) là quẻ thứ 7 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch. Quẻ gồm Khôn (Đất) ở trên và Khảm (Nước) ở dưới, tức quẻ trên là Khôn, quẻ dưới là Khảm. Tên quẻ 師 (Sư) vốn nghĩa là quân đội, đám đông, cũng dùng để chỉ thầy dạy.

Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.
Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.

Cấu trúc quẻ và tên gọi

Về cấu trúc, quẻ Địa Thủy Sư có Nước (Khảm) ở dưới, Đất (Khôn) ở trên. Hào Cửu nhị là hào dương duy nhất, nằm ở vị trí giữa của nội quái Khảm, các hào còn lại đều là hào âm. Cách hiểu phổ biến xem hào dương ấy là hình ảnh người chỉ huy, còn năm hào âm là đám đông đi theo.

Về nguồn gốc, truyền thống quy cho Phục Hy vẽ quẻ, Văn Vương đặt tên và viết quái từ, Chu Công viết hào từ, Khổng Tử viết Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi là đã chứng minh và thường xếp phần kinh của Chu Dịch vào đời Tây Chu, khoảng cuối thế kỷ 9 TCN, còn Thập Dực vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN.

Lời gốc của quẻ Địa Thủy Sư chép thế nào?

Dưới đây là lời kinh theo bản chữ Hán phồn thể trên Wikisource, kèm âm Hán Việt đọc theo đúng chữ Hán ấy và dịch nghĩa sát.

Quái từ:

師:貞丈人吉,无咎。

Sư: trinh trượng nhân cát, vô cữu.

Dịch nghĩa: Quân đội: giữ chính bền, dùng người trượng nhân thì tốt, không lỗi.

Hào Sơ lục:

初六:師出以律,否臧,凶。

Sơ lục: Sư xuất dĩ luật, phủ tàng, hung.

Dịch nghĩa: Quân ra phải theo kỷ luật; nếu không tốt (thất luật), xấu.

Hào Cửu nhị:

九二:在師中吉,无咎;王三錫命。

Cửu nhị: Tại sư trung cát, vô cữu; vương tam tích mệnh.

Dịch nghĩa: Ở trong quân mà giữ được trung thì tốt, không lỗi; vua ba lần ban mệnh.

Hào Lục tam:

六三:師或輿尸,凶。

Lục tam: Sư hoặc dư thi, hung.

Dịch nghĩa: Quân có khi phải chở xác về, xấu.

Hào Lục tứ:

六四:師左次,无咎。

Lục tứ: Sư tả thứ, vô cữu.

Dịch nghĩa: Quân đóng lại phía tả (tạm lui), không lỗi.

Hào Lục ngũ:

六五:田有禽,利執言,无咎。長子帥師,弟子輿尸,貞凶。

Lục ngũ: Điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu. Trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung.

Dịch nghĩa: Ruộng có chim, lợi về việc bắt giữ và nói ra, không lỗi. Người con trưởng cầm quân, kẻ con thứ chở xác về, dù chính bền cũng xấu.

Hào Thượng lục:

上六:大君有命,開國承家,小人勿用。

Thượng lục: Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng.

Dịch nghĩa: Vua lớn có mệnh, mở nước, nối nhà; kẻ tiểu nhân thì không dùng.

Thoán truyện (thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN):

師,眾也。貞,正也。能以眾正,可以王矣。剛中而應,行險而順,以此毒天下,而民從之,吉又何咎矣。

Sư, chúng dã. Trinh, chính dã. Năng dĩ chúng chính, khả dĩ vương hĩ. Cương trung nhi ứng, hành hiểm nhi thuận, dĩ thử độc thiên hạ, nhi dân tòng chi, cát hựu hà cữu hĩ.

Dịch nghĩa: Sư là đám đông. Trinh là chính. Có thể lấy đám đông mà làm cho chính thì có thể làm vua vậy. Cương mà trung lại có ứng, đi vào chỗ hiểm mà thuận, lấy đó mà trị thiên hạ, dân theo, tốt thì còn lỗi gì nữa.

Đại Tượng truyện:

地中有水,師;君子以容民畜衆。

Địa trung hữu thủy, Sư; quân tử dĩ dung dân súc chúng.

Dịch nghĩa: Trong đất có nước là quẻ Sư; người quân tử lấy đó mà bao dung dân, nuôi giữ đám đông.

Tiểu Tượng truyện cho từng hào:

  • Sơ lục: 師出以律;失律,凶也。 (Sư xuất dĩ luật; thất luật, hung dã. Quân ra phải theo kỷ luật; mất kỷ luật thì xấu.)
  • Cửu nhị: 在師中吉,承天寵也。王三錫命,懷萬邦也。 (Tại sư trung cát, thừa thiên sủng dã. Vương tam tích mệnh, hoài vạn bang dã. Ở trong quân mà giữ trung thì tốt, là nhận ơn trời vậy. Vua ba lần ban mệnh, là để yên muôn nước vậy.)
  • Lục tam: 師或輿尸,大无功也。 (Sư hoặc dư thi, đại vô công dã. Quân có khi chở xác về, là không có công lớn vậy.)
  • Lục tứ: 左次无咎,未失常也。 (Tả thứ vô cữu, vị thất thường dã. Đóng lại phía tả không lỗi, là chưa mất thường đạo vậy.)
  • Lục ngũ: 長子帥師,以中行也。弟子輿尸,使不當也。 (Trưởng tử suất sư, dĩ trung hành dã. Đệ tử dư thi, sử bất đương dã. Con trưởng cầm quân, là lấy trung mà làm vậy. Con thứ chở xác về, là sai người vậy.)
  • Thượng lục: 大君有命,以正功也。小人勿用,必亂邦也。 (Đại quân hữu mệnh, dĩ chính công dã. Tiểu nhân vật dụng, tất loạn bang dã. Vua lớn có mệnh, là để định công vậy. Không dùng kẻ tiểu nhân, vì ắt làm loạn nước vậy.)

Vương Bật và Chu Hy chú giải quẻ Địa Thủy Sư thế nào?

Dưới đây là lời chú của hai nhà, dịch sát ý theo bản đã đối chiếu.

Vương Bật chú (trong Chu Dịch chính nghĩa):

  • Trên quái từ: "Trượng nhân là cách gọi người nghiêm trang. Làm tướng cho quân mà được chính, dùng trượng nhân thì mới tốt. Khởi việc động chúng mà không có công là có tội, cho nên tốt mới là không lỗi."
  • Trên hào Sơ lục: "Là lúc bắt đầu làm tướng, phải làm cho quân được chỉnh. Chỉnh đám đông bằng kỷ luật, mất kỷ luật thì tán. Cho nên quân ra phải theo kỷ luật, kỷ luật không thể mất. Mất kỷ luật mà lại cho là tốt, khác gì với không tốt? Trái lệnh mà có công, phép không tha. Cho nên quân ra không theo kỷ luật, dù tốt hay không tốt đều xấu."
  • Trên hào Cửu nhị: "Lấy cương mà ở giữa, lại ứng với trên, là người ở trong quân mà giữ được trung. Nhận ơn trên, làm chủ một đạo quân, gánh việc lớn, nếu không có công thì xấu, cho nên tốt mới là không lỗi. Hành quân được tốt, không gì hơn là làm yên các nước; các nước được yên thì dân phục, ban thưởng không gì trọng hơn, cho nên mới thành mệnh."
  • Trên hào Lục tam: "Lấy âm ở ngôi dương, lấy mềm cưỡi cứng, tiến thì không có ứng, lui thì không có chỗ giữ, dùng quân như thế thì phải mắc cái xấu 'chở xác'."
  • Trên hào Lục tứ: "Được ngôi mà không có ứng, không có ứng thì không thể tiến, được ngôi thì có thể ở, cho nên đóng lại phía tả mà không lỗi. Phép hành quân muốn bên phải tựa vào chỗ cao, cho nên đóng lại phía tả."
  • Trên hào Lục ngũ: "Ở vào thời quân đội, mềm mà được ngôi tôn, âm không khởi xướng trước, mềm không xâm phạm vật, bị phạm rồi mới ứng, đi ắt được ngay thẳng, cho nên là 'ruộng có chim'. Vật phạm mình trước, cho nên có thể bắt giữ và nói ra mà không lỗi. Mềm không phải là tướng quân, âm không phải là cương vũ, cho nên không tự mình đi mà ắt phải giao cho người. Giao mà không được người thì mọi người không theo, cho nên 'con trưởng cầm quân' là được. Cái xấu của con thứ là lẽ đương nhiên."
  • Trên hào Thượng lục: "Ở chỗ tận cùng của đạo quân, là lúc kết thúc việc quân. Mệnh của vua lớn, là không để mất công. Mở nước nối nhà, là để yên nước. Không dùng kẻ tiểu nhân, vì không phải đạo của họ."

Chu Hy chú (Chu Dịch bản nghĩa):

  • Trên quái từ: "Sư là binh chúng. Dưới Khảm trên Khôn, Khảm hiểm Khôn thuận, Khảm nước Khôn đất. Người xưa gửi binh vào nông, giấu cái cực hiểm trong cái đại thuận, chứa cái không lường trong cái chí tĩnh. Lại nữa, quẻ chỉ có một hào dương là Cửu nhị ở giữa hạ quái, là tượng làm tướng; năm hào âm trên dưới thuận mà theo, là tượng đám đông; Cửu nhị lấy cương ở dưới mà làm việc, Lục ngũ lấy mềm ở trên mà giao cho, là tượng vua sai tướng ra quân. Cho nên quẻ ấy gọi là Sư. Trượng nhân là cách gọi người trưởng lão. Đạo dùng quân lợi ở chỗ được chính và giao cho người lão thành, mới được tốt mà không lỗi; răn người xem quẻ cũng phải như thế."
  • Trên hào Sơ lục: "Luật là phép. Phủ tàng là nói không tốt. Tiều thị nói: chữ 'phủ', các tiên nho phần nhiều viết là 'bất'. Ở đầu quẻ là lúc bắt đầu việc quân; đạo ra quân phải cẩn thận từ đầu, theo luật thì tốt, không tốt thì xấu; răn người xem quẻ phải cẩn thận từ đầu và giữ phép."
  • Trên hào Cửu nhị: "Cửu nhị ở dưới, được các hào âm quy về, mà có đức cương trung, trên ứng với hào ngũ mà được tin dùng, cho nên tượng và chiêm của nó như thế."
  • Trên hào Lục tam: "Dư thi là nói quân lính nhiễu bại, chở xác mà về. Lấy âm ở dương, tài yếu mà chí cương, không trung không chính, lại phạm vào chỗ không phải phận mình, cho nên tượng và chiêm của nó như thế."
  • Trên hào Lục tứ: "Tả thứ là nói lui quân. Âm mềm không trung mà ở âm được chính, cho nên tượng của nó như thế; giữ toàn quân mà lui thì hơn Lục tam xa, cho nên chiêm của nó như thế."
  • Trên hào Lục ngũ: "Lục ngũ là chủ dùng quân, mềm thuận mà trung, không phải kẻ gây ra chiến sự. Địch thêm vào mình, bất đắc dĩ mới ứng, cho nên có tượng 'ruộng có chim', và chiêm của nó lợi về việc bắt giữ mà không lỗi. Ngôn là lời nói. Trưởng tử là Cửu nhị. Đệ tử là hào ba, hào bốn. Lại răn người xem quẻ phải chuyên ở chỗ giao phó; nếu để người quân tử làm việc mà lại để kẻ tiểu nhân xen vào, thì là khiến họ chở xác mà về, cho nên tuy chính bền cũng không khỏi xấu."
  • Trên hào Thượng lục: "Là lúc kết thúc việc quân, cực điểm của thuận, là lúc bàn công ban thưởng. Khôn là đất, cho nên có tượng mở nước nối nhà. Nhưng kẻ tiểu nhân thì dù có công cũng không thể để họ có tước đất, chỉ nên thưởng cho vàng lụa là được; răn người ban thưởng là đối với kẻ tiểu nhân thì không thể dùng; còn kẻ tiểu nhân gặp quẻ này cũng không được dùng hào ấy."

Cách hiểu của Nhật Nguyệt về quẻ Địa Thủy Sư

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Sư là quẻ duy nhất trong 64 quẻ mà lời gốc nói thẳng về việc tổ chức một lực lượng đông người. Hình tượng "trong đất có nước" cho thấy sức mạnh tiềm ẩn cần được dẫn dắt. Quái từ đặt hai điều kiện: giữ chính bền, và giao cho người trượng nhân. Sáu hào vẽ ra một vòng đời của tổ chức: khởi đầu phải có kỷ luật, giữa phải có người cầm đầu xứng đáng, sai người thì thất bại, biết lui đúng lúc thì an, giao phó đúng người thì tốt, kết thúc phải phân minh công tội.

Cách hiểu này không bó hẹp ở quân sự. Bất cứ tập thể nào, từ một gia đình tới một doanh nghiệp, đều gặp lại các tình huống ấy. Điều Nhật Nguyệt nhấn là quẻ không đưa ra một bảo đảm nào về kết quả; lời gốc chỉ nói điều kiện nào thì tốt, điều kiện nào thì xấu, và để người đọc tự đối chiếu hoàn cảnh của mình.

Gặp quẻ Địa Thủy Sư khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu đang hỏi về việc làm, hãy xem ba điểm sau đây như một lời nhắc. Một là kỷ luật và quy trình ngay từ đầu, ứng với hào Sơ lục. Hai là vai trò của người cầm đầu, ứng với hào Cửu nhị: cần có người đủ năng lực ở vị trí trung tâm, và cần được trên tin. Ba là chỗ lui, ứng với hào Lục tứ: có thời điểm giữ nguyên lực lượng khôn ngoan hơn là cố tiến.

Gặp quẻ Địa Thủy Sư khi hỏi chuyện tình cảm thì sao?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: lời gốc của quẻ Sư không nói về tình cảm nam nữ. Nếu bạn gieo được quẻ này khi hỏi chuyện tình cảm, thì cách đọc hợp lý là mượn cấu trúc của quẻ: một người ở vị trí trung tâm, những người khác đi theo, và cần kỷ luật, cần minh bạch vai trò. Đây là cách hiểu của Nhật Nguyệt, không phải lời của quẻ.

Gặp quẻ Địa Thủy Sư khi hỏi chuyện tiền bạc thì sao?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Sư không nói về tài chính cá nhân. Nếu bạn gieo được quẻ này khi hỏi chuyện tiền bạc, có thể đọc theo tinh thần chung của quẻ: quản lý nguồn lực đông người cần quy tắc rõ, cần người đứng đầu đáng tin, và cần biết dừng khi tình hình không thuận. Nhật Nguyệt không đưa ra bảo đảm nào về kết quả tài chính.

Gặp quẻ Địa Thủy Sư khi hỏi chuyện sức khỏe thì sao?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: lời gốc của quẻ Sư không liên quan tới bệnh tật. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn gieo được quẻ này khi hỏi chuyện sức khỏe, hãy xem đó như một lời nhắc về nếp sinh hoạt có kỷ luật và về việc nên tìm người có chuyên môn. Quyết định về sức khỏe thuộc về bác sĩ, không thuộc về quẻ.

Gặp quẻ Địa Thủy Sư khi hỏi chuyện lãnh đạo thì sao?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: đây là chủ đề mà lời gốc của quẻ Sư nói trực tiếp nhất. Quái từ đặt điều kiện "trượng nhân", tức người trưởng thành, nghiêm trang, có uy tín. Hào Cửu nhị nói về người ở giữa quân mà giữ được trung. Hào Lục ngũ nói về người trên giao phó cho người dưới. Hào Thượng lục nói về lúc phân công, ban thưởng. Có thể đọc các hào ấy như những mốc để tự soi lại vai trò lãnh đạo của mình, chứ không phải như lời hứa về thành công.

Bối cảnh lịch sử của các chuẩn mực trong quẻ Sư

Một số hào từ mang chuẩn mực xã hội thời xưa. Chẳng hạn hào Lục ngũ phân biệt "trưởng tử" và "đệ tử", hào Thượng lục nói về "khai quốc thừa gia" và "tiểu nhân". Đây là bối cảnh lịch sử của xã hội phong kiến, nơi vai vế gia đình và tước vị gắn với trách nhiệm công việc. Trình bày các hào ấy là để hiểu văn bản, không phải để biến chúng thành lời khuyên cho đời sống hôm nay.

Quẻ Địa Thủy Sư có liên hệ gì với các quẻ khác?

Trong thứ tự 64 quẻ, quẻ Sư đứng sau quẻ Tụng (訟, kiện tụng, số 6) và trước quẻ Tỉ (比, số 8). Truyền thống đọc thứ tự này như một mạch: có tranh chấp thì sinh kiện tụng, kiện tụng không giải quyết được thì sinh việc động binh, động binh rồi thì phải tính chuyện thân phụ, liên kết. Đây là cách đọc truyền thống; nghiên cứu hiện đại không coi thứ tự ấy là một chuỗi nhân quả đã được chứng minh.

Bảng tra cứu nhanh: quẻ Địa Thủy Sư

Khía cạnhNội dung
Số thứ tự trong 64 quẻ7
Tên chữ Hán師
Ký hiệu䷆
Tên tiếng AnhThe Army
Quẻ thượng (ngoại quái)Khôn (Đất)
Quẻ hạ (nội quái)Khảm (Nước)
Sáu hào, hào sơ ở dướisơ âm, nhị dương, tam âm, tứ âm, ngũ âm, thượng âm
TượngTrong đất có nước, tượng cho đám đông
Luận giảiNói về việc tập hợp và điều động số đông. Điều được nhấn mạnh là kỷ luật và người dẫn dắt có uy tín. Sức mạnh tập thể thiếu tổ chức thì dễ thành hỗn loạn.

Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.

Quẻ hỗ và quẻ biến của Địa Thủy Sư

LoạiQuẻ trênQuẻ dướiTên
Quẻ gốcKhôn (Đất)Khảm (Nước)Địa Thủy Sư
Quẻ hỗKhôn (Đất)Chấn (Sấm)Địa Lôi Dự
Quẻ biến khi hào Cửu nhị độngKhôn (Đất)Khôn (Đất)Khôn Vi Địa

*Quẻ hỗ lấy ba hào giữa (hào 2, 3, 4 làm nội quái và hào 3, 4, 5 làm ngoại quái). Quẻ biến lấy hào động đổi âm dương. Bảng này khớp với công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.*

Bài tổng quan chủ đề: 64 quẻ Kinh Dịch.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Địa Thủy Sư có ý nghĩa gì trong tình yêu và hôn nhân?

Trong tình yêu và hôn nhân, quẻ Địa Thủy Sư nhấn mạnh đến sự nghiêm túc, trách nhiệm và kỷ luật. Gợi ý của Nhật Nguyệt: một mối quan hệ bền vững cần có sự cam kết rõ ràng, sự tôn trọng lẫn nhau và khả năng cùng nhau vượt qua khó khăn. Người trong cuộc cần tránh sự bốc đồng, thiếu suy nghĩ, thay vào đó hãy xây dựng mối quan hệ trên nền tảng của sự chân thành và hiểu biết.

Làm thế nào để ứng dụng quẻ Địa Thủy Sư trong công việc và sự nghiệp?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Trong công việc, bạn nên rèn luyện tính kỷ luật và sự chuyên nghiệp ngay từ những việc nhỏ nhất. Hãy xác định rõ mục tiêu và xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết. Nếu bạn đang ở vị trí lãnh đạo, hãy học cách lắng nghe, trao quyền cho người có năng lực và luôn giữ uy tín. Nếu bạn là nhân viên, hãy thể hiện sự đáng tin cậy và tinh thần hợp tác với đồng nghiệp.

Quẻ Địa Thủy Sư có phải là một quẻ xấu, mang ý nghĩa chiến tranh và xung đột không?

Quẻ Địa Thủy Sư không hoàn toàn là quẻ xấu. Đúng là quẻ có liên quan đến quân đội và xung đột, nhưng ý nghĩa cốt lõi của nó là về sự tổ chức, kỷ luật và lãnh đạo để vượt qua xung đột một cách hiệu quả. Gợi ý của Nhật Nguyệt: hãy sử dụng sức mạnh một cách chính đáng, có kế hoạch và vì mục tiêu cao cả.. Khi gặp quẻ này, điều quan trọng là phải hành động thận trọng, có nguyên tắc và biết kiềm chế, tránh sự nóng vội.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Đọc tiếp

64 quẻ · Quẻ Địa Thủy Sư

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Giới thiệu hai tác phẩm nghiên cứu mới về Kinh Dịch - Báo Nhân Dân
  2. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải), Kinh Dịch
  3. Richard Wilhelm và Cary F. Baynes (dịch), I Ching or Book of Changes, Princeton University Press (1950)
  4. Geoffrey Redmond và Tze-ki Hon, Teaching the I Ching (Book of Changes), Oxford University Press (2014)
  5. Chu Dịch, quẻ Địa Thủy Sư (師), kèm Thoán truyện và Tượng truyện, bản chữ Hán Wikisource
  6. Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ, Chu Dịch chính nghĩa, quẻ 師 (bản Wikisource)
  7. Chu Hy, Chu Dịch bản nghĩa (bản Tứ khố toàn thư, Wikisource)
  8. I Ching - Wikipedia
#KinhDịch#QuẻĐịaThủySư#64Quẻ#PhongThủy#TriếtLýPhươngĐông#LãnhĐạo#QuảnTrị