
TL;DR: Thất Tịch (七夕, còn gọi Tết Ngâu, ngày ông Ngâu bà Ngâu) là chiều tối mùng 7 tháng 7 âm lịch, gắn với sự tích Ngưu Lang và Chức Nữ bị sông Ngân Hà chia cách, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần. Năm 2026, ngày 7/7 âm lịch rơi vào thứ Tư 19/8 dương lịch. Sách Kinh Sở tuế thời ký thế kỷ 6 đã chép tục phụ nữ xâu kim bảy lỗ, bày dưa quả để cầu khéo đêm ấy, còn tục ăn chè đậu đỏ cầu duyên là thói quen của giới trẻ Việt Nam ngày nay, không có trong sách cổ.
Lễ Thất Tịch là ngày gì?
Thất Tịch là chiều tối ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hằng năm. Chữ Hán "thất" (七) nghĩa là bảy, "tịch" (夕) nghĩa là chiều tối, nên tên lễ nói thẳng thời điểm: buổi chiều tối của ngày mùng 7[1]. Ở Việt Nam, lễ còn được gọi là Tết Ngâu, ngày ông Ngâu bà Ngâu, và có khi được gọi là Valentine Đông Á[1][2].
Năm 2026, ngày 7/7 âm lịch tương ứng với thứ Tư ngày 19/8 dương lịch[1].
Ở Trung Quốc, lễ còn có tên Khất Xảo (乞巧), nghĩa là cầu khéo[2]. Vào đêm 7/7 âm lịch, phụ nữ xưa cầu mong có đôi bàn tay khéo léo, bày đồ thủ công để mong lấy được tấm chồng tốt[2]. Nhật Bản gọi lễ này là Tanabata, người ta viết điều ước lên mảnh giấy màu Tanzaku rồi treo lên cành trúc[2]. Hàn Quốc gọi là Chilseok, có tục tắm và ăn mì, bánh nướng vì cho rằng sau lễ gió lạnh sẽ làm hỏng hương vị lúa mì[2].
Vì sao ăn chè đậu đỏ vào ngày Thất Tịch?
Tục ăn chè đậu đỏ ngày Thất Tịch không phải tục lệ cổ ghi trong sách, mà là thói quen của giới trẻ Việt Nam được báo chí ghi nhận: vào dịp này, nhiều người trẻ rủ nhau ăn chè đậu đỏ như một cách "cầu tình duyên"[1]. Trong quan niệm ấy, đậu đỏ tượng trưng cho may mắn, son sắt và hạnh phúc lứa đôi, còn màu đỏ là sắc của tình yêu và sự sum vầy[1]. Người độc thân ăn để mong gặp được nửa kia, người đang yêu ăn để thêm gắn bó, vợ chồng ăn để cầu hòa thuận[1].
Hàng quán ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường đông khách trong mùa Thất Tịch nhờ món "đậu đỏ thoát ế", và không chỉ chè đậu đỏ mà còn xôi đậu đỏ, sữa chua đậu đỏ[1].
Đây là niềm tin, không phải kết quả đã được kiểm chứng.
Sự tích Ngưu Lang Chức Nữ kể thế nào?
Sự tích kể rằng Ngưu Lang là chàng trai chăn trâu hiền lành, được nàng tiên dệt vải Chức Nữ, con gái út của Vương Mẫu Nương Nương, chuyên dệt mây ngũ sắc trên trời, để ý. Hai người nên duyên vợ chồng, sống hạnh phúc và có hai con, một trai một gái[2].
Một ngày, Chức Nữ phải trở về thiên đình theo lệnh Ngọc Đế. Ngưu Lang đuổi theo nhưng bị sông Thiên Hà, ranh giới giữa cõi phàm và cõi tiên, chặn lại. Chàng kiên trì chờ đợi, không rời đi. Bên sông từ đó có một vì sao gọi là sao Ngưu Lang. Cảm thương tấm chân tình, Vương Mẫu đồng ý để hai người mỗi năm gặp nhau một lần vào ngày Thất Tịch[2].
Sự tích có thêm một số dị bản, nhưng tựu trung vẫn ca ngợi tình yêu chung thủy và nỗi nhớ mong trong tình yêu[2]. Đây là truyền thuyết dân gian, không phải sự kiện lịch sử.
Kinh Sở tuế thời ký chép gì về tục ngày mùng 7?
Sách Kinh Sở tuế thời ký (荊楚歲時記) của Tông Lẫm, soạn khoảng thế kỷ 6, có một mục riêng về đêm mùng 7 tháng 7: "七月七日,為牽牛織女聚會之夜。是夕,人家婦女結綵縷,穿七孔針,或以金銀鍮石為針,陳几筵酒脯瓜菓於庭中,以乞巧,有喜子網於瓜上,則以為符應" (Ngày mùng 7 tháng 7 là đêm Khiên Ngưu, Chức Nữ gặp nhau. Tối ấy phụ nữ các nhà kết chỉ màu, xâu kim bảy lỗ, có nhà làm kim bằng vàng, bạc, đồng thau, bày bàn rượu, thịt khô, dưa quả ở sân để cầu khéo; thấy nhện con giăng tơ trên dưa thì cho là điềm ứng)[3]. Đây là một trong những ghi chép sớm và rõ nhất về tục khất xảo. Sách chép tục vùng Kinh Sở, không chép tục Việt Nam, và không nhắc tới đậu đỏ.
Vì sao Thất Tịch gắn với chuyện tình duyên?
Thất Tịch gắn với tình duyên vì sự tích Ngưu Lang Chức Nữ kể về một cuộc tình bị chia cách và mỗi năm chỉ sum họp một lần. Từ đó, người ta chọn ngày này để cầu mong tình duyên thuận lợi, hạnh phúc[2].
Vào ngày Thất Tịch, người độc thân thường đi cầu tình duyên may mắn, các cặp vợ chồng cầu cho gia đình êm ấm, các đôi yêu nhau đến chùa làm lễ mong tình duyên bền lâu, son sắt[1][2]. Nhiều người tin rằng tham gia lễ hội sẽ mang lại may mắn trong tình yêu và hạnh phúc gia đình[2]. Đây là những niềm tin, không phải lời hứa chắc chắn.
Lễ Thất Tịch ở các nước khác nhau ra sao?
| Nơi | Tên gọi | Tục lệ chính |
|---|---|---|
| Việt Nam | Thất Tịch, Tết Ngâu, ngày ông Ngâu bà Ngâu | Ăn chè đậu đỏ cầu duyên; đi chùa làm lễ |
| Trung Quốc | Thất Tịch, Khất Xảo | Phụ nữ cầu khéo tay, bày đồ thủ công để mong lấy chồng tốt |
| Nhật Bản | Tanabata | Viết điều ước lên giấy Tanzaku, treo lên cành trúc; đến đền cầu nguyện |
| Hàn Quốc | Chilseok | Tắm cầu sức khỏe; ăn mì và bánh nướng làm từ lúa mì |
Bảng tổng hợp theo hai bài của báo VietNamNet[1][2]. Tục cầu khéo của Trung Quốc ở hàng thứ hai chính là tục khất xảo mà Kinh Sở tuế thời ký chép từ khoảng thế kỷ 6[3]; tục ăn chè đậu đỏ ở hàng đầu thì không có trong sách ấy.
