
TL;DR: Nguyệt phá là tình trạng một hào trong quẻ bị chi của tháng xung. Các sách cũ coi hào ấy như cây khô rễ, có cũng như không. Tăng san bốc dịch bác lối đoán ấy: hào phá mà động thì vẫn tác động được và ứng khi ra khỏi tháng, lúc thực phá hoặc gặp hợp; hào lâm nhật kiến thì gặp phá mà không phá; chỉ hào tĩnh, không được ngày hay hào động sinh trợ, mới là phá tới cùng. Đây là quy ước của môn bói, không phải kết luận khoa học về vận mệnh con người.
Nguyệt phá trong Lục Hào là gì?
Nguyệt phá là tình trạng một hào trong quẻ bị chi của tháng (nguyệt kiến) xung phá. Ví dụ tháng Dần thì hào Thân bị xung, tháng Mão thì hào Dậu bị xung, tháng Thìn thì hào Tuất bị xung, và cứ theo lục xung Tý Ngọ, Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi mà suy ra. Sách Tăng san bốc dịch của Dã Hạc lão nhân (Lý Văn Huy tăng san) có hẳn một chương bàn về "nguyệt phá", đặt ngang hàng với chương "tuần không", và trong nhiều chương luận đoán, hai khái niệm này luôn được nhắc cùng nhau như cặp tiêu chí đánh giá độ suy của một hào[1].
Tăng san bốc dịch thuật lại cách hiểu của các sách trước nó: dụng thần lâm nguyệt phá thì như cây khô rễ, được sinh cũng không dậy, bị thương thì càng nặng; hiện trong quẻ mà có cũng như không; dù được ngày sinh cũng không sinh nổi; có động làm kỵ thần cũng không hại được hào nào[1]. Lối đoán ấy coi nguyệt phá là dấu chấm hết cho một hào.
Dã Hạc lão nhân không theo lối ấy. Ông viết rằng theo điều mình nghiệm được, hào phá mà động thì vẫn làm thương được hào khác, vì "thần triệu cơ ư động" (神兆機於動): đã động là đã có mầm họa phúc. Trước mắt tuy phá, ra khỏi tháng thì không phá; hôm nay tuy phá, đến ngày thực phá thì không phá, gặp ngày hợp thì không phá; việc gần ứng vào ngày, việc xa ứng vào năm tháng. Chỉ hào tĩnh không động, lại không được ngày hay hào động sinh trợ, mới là phá tới cùng (到底而破)[1].
Vì sao một hào bị tháng xung lại bị coi là suy?
Cơ chế của nguyệt phá nằm ở cách môn Lục Hào quan niệm về quyền của tháng. Chương Nguyệt tướng của Tăng san bốc dịch viết nguyệt kiến nắm quyền một tháng, giữ lệnh ba tuần, là vị soái đương quyền (當權之帥): hào suy thì nó sinh, hợp, phù cho vượng lên; hào vượng thì nó xung, khắc, phá cho suy đi. Cũng chương ấy viết hào được tháng hợp thì hữu dụng, hào bị tháng xung, tức nguyệt phá, thì vô công (爻逢月合而有用,爻逢月破而無功)[1].
Hình ảnh các sách cũ dùng cho hào nguyệt phá là "khô căn mộc", cây khô rễ. Dã Hạc dẫn quẻ thật để bác điều ấy với hào động: tháng Hợi ngày Kỷ Sửu, một người hỏi sau này có quan chức không, được quẻ Đoài biến Tụng; hào Quan quỷ Tỵ hỏa động sinh thế nhưng lâm nguyệt phá. Bảo hỏi lại, được quẻ Tỷ, Quan quỷ trì thế. Ông đoán sẽ có quan, ứng vào năm thực phá; sách chép người ấy thừa tập chức vào năm Tỵ[1].
Cần phân biệt nguyệt phá với hai khái niệm gần nó. Tuần không là hào mang một trong hai chi vắng mặt của tuần mười ngày đang xét; theo sách, ra khỏi tuần hoặc gặp ngày xung thì hết không. Nhật phá, theo chương Nhật thần, là hào tĩnh mà suy nhược bị ngày xung; hào tĩnh vượng tướng bị ngày xung thì lại là ám động[1].
Khi nào phá mà không phá?
Theo Tăng san bốc dịch, một hào bị nguyệt phá không phải lúc nào cũng phá tới cùng. Sách nêu ba tình huống và một ngoại lệ[1]:
- Hào động: hào đã phát động thì vẫn tác động được lên hào khác, và việc sẽ ứng khi ra khỏi tháng, tới ngày tháng thực phá hoặc gặp ngày hợp.
- Hào được ngày sinh hoặc được hào động sinh trợ: sách chỉ gọi là phá tới cùng khi hào tĩnh và không có hai nguồn sinh trợ này.
- Hào lâm nhật kiến: chương Nhật thần viết "phùng nguyệt phá nhi bất phá"; ví dụ tháng Dậu ngày Mão, hào Mão mộc là "phùng phá bất phá".
- Ngoại lệ của trường hợp trên: nếu trong quẻ lại động ra Thân, Dậu kim khắc hào Mão ấy thì là "quả bất địch chúng", phá vẫn là phá.
Bảng đối chiếu các trường hợp nguyệt phá
| Trường hợp | Lời sách | Chương |
|---|---|---|
| Hào nguyệt phá, tĩnh, không được ngày hay hào động sinh trợ | Phá tới cùng | Nguyệt phá |
| Hào nguyệt phá mà động | Vẫn làm thương được hào khác; ứng khi ra khỏi tháng, lúc thực phá hoặc gặp hợp | Nguyệt phá |
| Hào nguyệt phá lâm nhật kiến | Gặp phá mà không phá | Nhật thần |
| Hào nguyệt phá lâm nhật kiến nhưng bị nhiều hào động khắc | Ít không địch nổi nhiều, phá vẫn là phá | Nhật thần |
| Kỵ thần tĩnh, lâm không hoặc phá | Thuộc bảy trường hợp kỵ thần không khắc nổi dụng thần | Nguyên thần kỵ thần suy vượng |
| Nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá | Thuộc sáu trường hợp nguyên thần không sinh nổi dụng thần | Nguyên thần kỵ thần suy vượng |
Bảng trên gom lời của ba chương Nguyệt phá, Nhật thần và Nguyên thần kỵ thần suy vượng trong Tăng san bốc dịch[1]. Đây là quy ước của một sách bói, không phải kết quả đo lường hay kiểm nghiệm.
Vì sao có sự khác biệt giữa các sách?
Các sách Lục Hào không nói một lời về nguyệt phá. Cuối chương, Lý Ngã Bình dẫn hai sách đi trước. Dịch mạo cho rằng hào nguyệt phá động làm kỵ thần cũng vô hại, làm nguyên thần cũng vô dụng, được ngày sinh cũng không dậy, là quẻ "bách vô sở dụng". Dịch lâm bổ di viết hào lâm nguyệt phá thì không kể suy vượng, cứ đoán hung, "phùng sinh bất thụ, ngộ khắc năng chiêu", được sinh thì không nhận, gặp khắc thì chuốc lấy[1].
Lý Ngã Bình bác cả hai bằng chính một quẻ của Dã Hạc. Tháng Ngọ ngày Quý Mão, một viên quan hỏi công danh về sau; hào Thê tài Tý thủy động nhưng lâm nguyệt phá, lại hóa ra hào tuần không. Dã Hạc đoán tháng bảy có chuyện, bị giáng cấp chứ không mất chức. Sách chép tháng bảy xảy ra việc lớn, tháng Tý kết án giáng cấp điều dùng, đến năm Giáp Tý thì được dùng lại nguyên phẩm. Lý Ngã Bình kết: lành dữ một đời người ấy gắn vào một hào nguyệt phá, sao nói được là có cũng như không[1].
Ở chương tiến thần thoái thần, Lý Ngã Bình lại phê Dịch mạo khi sách ấy nói hào động lâm nhật nguyệt mà hóa không, hóa phá thì không tiến được. Ông viết: hào động đã lâm nhật nguyệt thì "phùng không bất không, phùng phá bất phá", gặp không chẳng kể là không, gặp phá chẳng kể là phá; còn hào đã động mà phá thì tự có kỳ thực phá[1]. Câu này nói về hào động có ngày hoặc tháng đứng sau, không phải về mọi hào động.
Ứng dụng vào đoán việc cụ thể
Hào phá đóng vai gì trong quẻ thì sách luận theo vai ấy. Chương Nguyên thần kỵ thần suy vượng xếp "kỵ thần tĩnh lâm không phá" vào bảy trường hợp kỵ thần không khắc nổi dụng thần, và "nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá" vào sáu trường hợp nguyên thần không sinh nổi dụng thần[1]. Một quẻ khác trong chương Nguyệt phá: tháng Thìn ngày Mậu Tý, hỏi cha bao giờ về, được quẻ Càn biến Quải; hào Phụ mẫu Tuất thổ trì thế bị tháng xung, động hóa ra Mùi thổ đang tuần không. Dã Hạc đoán ngày Mão có tin, ngày Ngọ hoặc Mùi về; sách chép ngày Mão được tin, ngày Ất Mùi tới nhà, và giải ngày Mão là ngày phá mà gặp hợp[1].
Như vậy trong sách này "phá" không mang một nghĩa cố định: cùng là nguyệt phá, rơi vào dụng thần hay nguyên thần thì sách coi là yếu đi, rơi vào kỵ thần thì sách coi là bớt hại.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Gặp một hào nguyệt phá khi đọc sách Lục Hào, có thể lần theo đúng bốn câu hỏi của Tăng san bốc dịch: hào ấy động hay tĩnh; ngày và các hào động có sinh trợ nó không; nó có lâm nhật kiến không; và nếu sách nói có ứng thì ứng vào lúc ra khỏi tháng, lúc thực phá hay lúc gặp hợp. Chỉ khi hào tĩnh và không có gì sinh trợ, sách mới gọi là phá tới cùng.
Toàn bộ những điều trên là quy ước của môn Lục Hào chép trong một sách cổ, chưa được kiểm chứng; không dùng làm căn cứ để quyết định hôn nhân, đầu tư hay chữa bệnh.