Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Mâm cúng giỗ miền Nam gồm món gì và phong tục đám giỗ Nam Bộ diễn ra thế nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Mâm cúng giỗ miền Nam gồm món gì và phong tục đám giỗ Nam Bộ diễn ra thế nào?

TL;DR: Mâm cúng giỗ miền Nam, tức đám giỗ Nam Bộ, thường gồm các món gà, vịt, thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, lẩu cù lao, bánh ít, bánh tét và trái cây. Đám giỗ ở miền Tây thường diễn ra hai ngày: chiều hôm trước là mâm tiên rước ông bà, hôm sau là ngày giỗ chính với khoảng 8 đến 10 món. Nét riêng dễ nhận thấy là xóm giềng cùng góp công nấu nướng, và khách dự giỗ được chủ nhà gửi phần mang về.

Đám giỗ Nam Bộ là gì?

Đám giỗ Nam Bộ là dịp con cháu tụ họp cúng cơm cho người đã khuất vào đúng ngày tháng mất, thường gọi nôm na là cúng giỗ hay đám giỗ. Trong cách gọi quen thuộc ở Đồng Nai và Nam Bộ, tục thờ cúng tổ tiên được gọi là thờ cúng ông bà, hiểu là việc thờ cúng ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc đã mất, gắn với lễ nghi thờ phụng cúng bái của gia đình[1].

Nhiều tài liệu điền dã ghi nhận tục thờ cúng tổ tiên của cư dân Việt ở Đồng Nai và Nam Bộ bắt đầu từ vốn liếng có sẵn trong gia tài văn hóa mang theo suốt quá trình chuyển cư, chứ không hình thành tại chỗ như tục thờ tổ tiên của cư dân Việt cổ ở Bắc Bộ, vốn gắn với sự hình thành cộng đồng thị tộc phụ quyền[1].

Về nghi thức, sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (in năm 1915) chép rằng ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ gọi là ngày kỵ nhật; chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ. Giỗ xa thì sắm con gà, ván xôi hoặc một vài mâm cỗ; giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn. Trong khi giỗ, dù lớn nhỏ thế nào, tối thiểu phải có một bát cơm úp vào một quả trứng luộc làm đầu[2].

Sách của Phan Kế Bính viết về phong tục người Việt nói chung, nên nếp cúng từ chiều hôm trước không riêng gì Nam Bộ. Riêng với Nam Bộ, Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi nhận rằng ba ngày tiên thường, chánh giỗ, hậu thường nay chỉ còn thấy ở những miền quê, nhất là các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trong khi đám giỗ ở thị thành thường gọn nhẹ nhất có thể[3].

Mâm cúng giỗ miền Nam gồm những món gì?

Mâm cúng giỗ miền Nam, theo ghi nhận ở miền Tây, thường có các món gà, vịt, thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, lẩu cù lao, các loại bánh như bánh tét, bánh ít, bánh bò, kèm trái cây và hương hoa. Ngày giỗ chính thường được chuẩn bị chu đáo hơn với khoảng 8 đến 10 món ăn[4].

Theo ghi nhận của Báo An Giang, trong mâm cơm giỗ miền Tây xưa gần như không thể thiếu thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, lẩu cù lao cùng các loại bánh như bánh tét, bánh ít, bánh bò[4].

Nhóm mónMón thường gặpGhi chú
Món mặn chínhGà, vịt, thịt kho hột vịt, lẩu cù laoCó mặt gần như mặc định trong mâm giỗ miền Tây
CanhCanh khổ qua dồn thịtMón canh đặc trưng, thường xuất hiện trong mâm cúng
BánhBánh tét, bánh ít, bánh bòCó nhà gói vài trăm bánh mỗi đám, trước cúng sau biếu
Trái cây, hương hoaDĩa trái cây, hoa tươi, nhang đènBày trên bàn thờ trước giờ cúng

Bánh ít là món được nhắc tới nhiều nhất khi nói về đám giỗ Nam Bộ. Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi nhận đám giỗ ở Nam Bộ đặc trưng có bánh ít, có gia đình mỗi đám gói vài trăm bánh là chuyện thường, bởi trước cúng ông bà, sau có cái biếu cho bà con, chòm xóm ăn lấy thảo[3].

Cũng theo tờ báo này, chuyện gói bánh ngày nay không còn bắt buộc, nhiều gia đình dùng dịch vụ cung cấp bánh trái theo đám, nhưng vẫn có nhà giữ truyền thống gói bánh trong ngày giỗ chủ yếu để con cháu quây quần, và quanh việc chuẩn bị bánh trái là lúc con cháu được dạy về việc tưởng nhớ tổ tiên[3].

Phong tục đám giỗ Nam Bộ diễn ra trong mấy ngày và theo trình tự nào?

Đám giỗ miền Tây thường diễn ra trong hai ngày: chiều hôm trước là mâm tiên, hôm sau là ngày giỗ chính. Mâm tiên khá đơn giản, chủ yếu để rước ông bà tổ tiên; tối đến bà con, họ hàng, xóm giềng quây quần trò chuyện, nhắc lại chuyện nghĩa tình và cách sống của người đã khuất để con cháu thêm hiểu và kính trọng cội nguồn gia đình[4].

Tờ mờ sáng hôm sau, các bà, các chị trong xóm tụ họp đông đủ để phụ việc bếp núc: người làm gà, làm vịt, người chặt thịt, lặt rau, nấu nướng. Khoảng 10 giờ, gia chủ bày mâm cúng đầy đủ món ăn rồi thắp hương tưởng nhớ ông bà tổ tiên[4].

Công đoạn chuẩn bị có khi bắt đầu từ vài ba tháng trước. Theo ghi chép về đời sống dân gian miền Tây Nam Bộ, chủ nhà dự tính hốt bầy vịt hay gầy ấp một hai bầy gà để nuôi, tính toán sao cho đến ngày cúng giỗ gà vịt lớn vừa ăn thịt được; nhà muốn tổ chức lớn hơn thì dự tính nuôi heo. Chừng nửa tháng trước ngày giỗ, những người phụ nữ quán xuyến bếp núc tính toán ngâm nếp, xay bột, phơi khô để gần tới đám làm bánh[5].

Vì sao khách đi ăn đám giỗ miền Tây còn được phần mang về?

Khách đi ăn đám giỗ miền Tây không chỉ được đãi món ngon tại chỗ mà sau khi xong tiệc còn được chủ nhà tặng phần mang về. Báo Thanh Niên gọi đây là tục xưa rất đẹp được nhiều gia đình ở miền quê lưu giữ qua nhiều thế hệ, thể hiện tính cách hào sảng, chân chất và nghĩa tình của người dân nơi đây[6].

Người trong cuộc giải thích giản dị: một chủ nhà nói với Báo Thanh Niên rằng phần quà là cách gia đình cảm ơn chòm xóm láng giềng đã dành thời gian tới dự[6]; Báo Sài Gòn Giải Phóng thì ghi túi quà nhỏ là để đám nhỏ ở nhà có cái mà trông, mà mừng[3].

Cần phân biệt: tục chia phần mang về được ghi nhận trong bài báo về đám giỗ miền Tây[6], không phải tập tục được mô tả cho toàn bộ Nam Bộ hay cho mọi gia đình. Phạm vi ghi nhận của nguồn là các đám giỗ ở miền quê miền Tây mà phóng viên trực tiếp tham dự.

Bàn thờ và cách bài trí trong nhà người Nam Bộ có gì đáng chú ý?

Bàn thờ gia tiên ở Nam Bộ được đặt ở chánh diện ngôi nhà, gian nhà lớn hay nhà trước, hướng ra cửa cái. Theo ghi nhận của Báo Cần Thơ, người xưa quan niệm khách bước vào nhà sẽ đánh giá phần nào tâm tính của gia chủ qua bàn thờ gia tiên, nên việc bài trí vật dụng trên bàn thờ được sắp đặt theo khuôn mẫu nhất định[7].

Nguồn này cũng ghi rằng ngày xưa trên mỗi bàn thờ của người dân Nam Bộ thường có đầy đủ bộ ngũ sự gồm lư hương, hai chân đèn, lục bình cắm hoa và một ống bằng gỗ hoặc đồng dùng đựng nhang[7].

Về phạm vi thờ tự, tục thờ cúng ông bà trong gia đình người Việt ở Đồng Nai và Nam Bộ phân rõ hai nội dung là phụng thờ và cúng bái. Căn nhà dù nhỏ vẫn dành nơi trang trọng nhất là gian chính để thờ ông bà, và ông bà được thờ gồm nhiều thế hệ: cha mẹ, ông bà nội ngoại, ông bà cố[1].

Nhiều gia đình miền Tây lập bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, trong đó có lư hương thờ cha mẹ hoặc ông bà nội ngoại, hoặc cô, dì, chú bác trong trường hợp những người này không có con nên cháu thờ cúng[5].

Trần Đình Hằng, trong bài nghiên cứu bàn về nguồn cội của vàng mã, đã mổ xẻ cách hiểu chữ hiếu nằm sau những nghi thức kể trên: theo quan niệm, người đã khuất chẳng hề biến mất mà chuyển sang sinh sống ở thế giới bên kia; họ luôn hiện diện, chứng kiến và giám sát con cháu qua sự hiện diện thường trực của bát hương cùng bài vị đặt trên bàn thờ. Tác giả cũng cho rằng bát hương phải luôn cháy sáng, hiểu theo hai khía cạnh: mãi có người thắp hương, và mâm cúng kỵ giỗ đầy đủ[9].

Chuyện cỗ bàn linh đình ngày giỗ từng bị phê phán ra sao?

Phê phán ấy có từ lâu trong sách vở người Việt, tuy hai cuốn sách dẫn dưới đây không viết riêng về Nam Bộ. Theo chép trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tục nước ta hễ nhà nào tới ngày giỗ là dốc sức lo toan, có khi còn đi vay mượn để sắm cỗ bàn đãi khách, thành thử chẳng còn chút thương nhớ nào; tác giả nhận định rằng càng lùi xa đời cổ, người ta càng làm sai lệch ý cổ. Sách cũng đưa ra quan điểm: ngày giỗ mà tế, theo tục, có làm cũng không sao, miễn là không bày cỗ linh đình, mời khách ăn uống rộn rịp mà quên mất ý thương xót, kính mến[8].

Ở tầng lớp trên, mặt trái của tục này cũng được Phan Kế Bính ghi nhận trong Việt Nam phong tục: với nhà hào trưởng trong làng, có khi cả làng kéo đến ăn giỗ; với nhà ông thầy đông học trò, cả học trò cũng đến ăn giỗ; còn nhà quan trưởng thì thường cả tổng lý phủ huyện tới lễ giỗ, ăn uống phiền phí lắm[2].

Cần nói rõ đây là nhận xét của người chép sách về tục lệ thời họ quan sát, không phải bản án đạo đức áp cho đám giỗ Nam Bộ hôm nay. Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi nhận thực tế ngược lại ở đô thị: đám giỗ ở thị thành thường gọn nhẹ nhất có thể, con cháu nhớ ngày, vài ba món mặn ngọt, trái cây, hoa tươi để lên bàn thờ rồi thắp nhang[3].

Chỗ các nguồn không thống nhất

Các nguồn không thống nhất về số ngày của đám giỗ. Báo An Giang mô tả đám giỗ miền Tây thường diễn ra trong hai ngày gồm mâm tiên chiều hôm trước và ngày giỗ chính hôm sau[4]. Báo Sài Gòn Giải Phóng lại nhắc tới ba ngày tiên thường, chánh giỗ, hậu thường và nói cấu trúc này nay chỉ còn thấy ở miền quê[3]. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng ghi chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau là ngày chính kỵ[2], tức cách gọi hai ngày. Có thể hiểu số ngày thay đổi theo từng gia đình, từng vùng và từng thời kỳ, không có một con số chuẩn chung cho cả Nam Bộ.

Về số món, chỉ Báo An Giang nêu con số: khoảng 8 đến 10 món cho ngày giỗ chính[4]. Đó là lời kể của một người dân ở An Giang, không phải quy định áp cho mọi đám giỗ.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Nếu bạn đang chuẩn bị đám giỗ đầu tiên trong nhà, có thể bắt đầu từ bốn nhóm cơ bản: một món gà hoặc vịt luộc, một món kho, một món canh, một món bánh, rồi thêm trái cây và hương hoa. Đây là khung tối thiểu, không phải danh mục bắt buộc, vì mâm giỗ Nam Bộ xưa nay vốn co giãn theo kinh tế gia đình và theo vị thế của người được cúng[5].

Với gia đình ở đô thị, việc rút gọn còn một buổi cúng và vài món là lựa chọn nhiều nhà đã chọn[3]. Với gia đình ở quê còn đông họ hàng, giữ mâm tiên chiều hôm trước là cách để người đi làm xa kịp về. Điều đáng giữ nhất, theo cách nhìn của người viết, không nằm ở số món mà ở chỗ con cháu biết ngày, biết tên người được cúng và biết vì sao mình làm việc ấy.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Mâm cúng giỗ miền Nam thường có những món gì?

Mâm cúng giỗ miền Nam thường có các món gà, vịt, thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, lẩu cù lao, cùng các loại bánh như bánh tét, bánh ít, bánh bò, kèm trái cây và hương hoa. Ngày giỗ chính thường được chuẩn bị khoảng 8 đến 10 món. Đây là con số ghi nhận ở các gia đình miền Tây, không phải quy định chung cho mọi đám giỗ.

Đám giỗ Nam Bộ kéo dài mấy ngày?

Đám giỗ miền Tây thường diễn ra hai ngày: chiều hôm trước là mâm tiên rước ông bà, hôm sau là ngày giỗ chính. Tuy nhiên một số tài liệu nhắc tới ba ngày tiên thường, chánh giỗ, hậu thường và cho rằng cấu trúc này nay chỉ còn ở miền quê. Số ngày thay đổi theo từng gia đình và từng vùng.

Vì sao đi ăn đám giỗ miền Tây lại được mang phần về?

Theo ghi nhận của báo chí về đám giỗ miền Tây, khách dự tiệc xong được chủ nhà tặng phần mang về. Đây là tục xưa được nhiều gia đình ở miền quê lưu giữ qua nhiều thế hệ, một chủ nhà coi đó là cách cảm ơn xóm giềng đã tới dự. Tục này được ghi nhận ở các đám giỗ miền quê miền Tây, không phải tập tục mô tả cho toàn bộ Nam Bộ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcBáo Đồng Nai, Tục thờ cúng ông bà của người Việt ở Đồng Nai - Nam bộ, Đồng Nai cuối tuần, 24/06/2023"Thờ cúng ông bà" là cách gọi quen thuộc ở Đồng Nai - Nam bộ về tục thờ cúng tổ tiên của người Việt
  2. ↑ abcPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Mục XI. Kỵ nhật, tr. 9 và tr. 41Ngày giỗ cụ ky, òng bà, cha mẹ, gọi là ngày ky nhật. Chiều hôm trước cúng fiến thường, hôm sau mới là ngày chính kụ.
  3. ↑ abcdefgBáo Sài Gòn Giải Phóng, Đám giỗ quê nhà, 10/04/2022Đám giỗ ở Nam bộ đặc trưng có bánh ít, có gia đình mỗi đám gói vài trăm bánh là chuyện thường
  4. ↑ abcdefBáo An Giang, Đám giỗ miền Tây, An Giang 24 giờ, 12/05/2026Ngày giỗ chính thường được chuẩn bị chu đáo hơn, với khoảng 8 - 10 món ăn.
  5. ↑ abcZnews, Đám giỗ trong đời sống dân gian miền Tây Nam Bộ, Chuyên mục Dư vị miền xưaCách vài ba tháng trước chủ nhà đã dự tính đến chuyện hốt bầy vịt hay gầy ấp một, hai bầy gà để nuôi.
  6. ↑ abcBáo Thanh Niên, Đi ăn đám giỗ miền Tây, vì sao khách còn có phần mang về?, Phong tục miền Tây, 03/08/2026Ăn đám giỗ miền Tây, khách không chỉ được chủ nhà đãi những món ăn ngon mà sau khi xong tiệc còn được tặng phần mang về.
  7. ↑ abBáo Cần Thơ, Nghi thức thờ cúng ông bà ở Nam bộ, Sáng tác - Biên khảo, 03/07/2010Bàn thờ được đặt ở chánh diện của ngôi nhà, ở gian nhà lớn hay nhà trước, hướng ra cửa cái.
  8. ↑Phạm Đình Hổ và Nguyễn Hữu Tiến (dịch) (không rõ năm). Vũ trung tùy bút (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến), Chương về tục lệ ngày giỗTục nước ta, nhà nào đến ngày giỗ thì hết sức lo tính, thậm chí phải đi vay mượn về làm cỗ bàn để đãi khách, không còn có chút thương nhớ gì cả.
  9. ↑Trần Đình Hằng (2015). Các yếu tố nguồn cội của vàng mã. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 (140), 2015, tr. 93-101
#ĐámGiỗMiềnNam#MâmCúngGiỗMiềnNam#PhongTụcĐámGiỗNamBộ#ĐámGiỗMiềnTây#ThờCúngÔngBà#VănHóaNamBộ