Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Người Tràng An thanh lịch nghĩa là gì: câu ca dao ấy nói về nếp ăn nếp nói nào, và phần nào trong đó còn sống tới hôm nay

Chia sẻ:
Người Tràng An thanh lịch nghĩa là gì: câu ca dao ấy nói về nếp ăn nếp nói nào, và phần nào trong đó còn sống tới hôm nay
TL;DR: Thanh lịch theo cách hiểu phổ biến được nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy ghi lại gồm hai vế: thanh là trong sáng, không tục, không thô lỗ; lịch là lịch thiệp, lịch lãm, lịch sự. Câu ca dao Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An không phải một lời khen tuyệt đối, mà là cách nói vừa tự hào vừa tự nhắc mình giữ nếp. Nét ấy thể hiện ở lời ăn tiếng nói, ở cách buôn bán giữ chữ tín, ở sự ý tứ với người xung quanh, và theo các tác giả đương đại thì nó không còn nguyên vẹn như trước nhưng vẫn tồn tại như một mạch ngầm trong đời sống Hà Nội.

Người Tràng An là ai, và vì sao lại gọi là Tràng An?

Người Tràng An là cách gọi cũ chỉ người sống ở kinh đô, mà cụ thể trong ngữ cảnh Việt Nam là người Thăng Long, Hà Nội. Theo bài Cốt cách người Tràng An trên báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, Tràng An vốn là kinh đô của Trung Quốc thời Hán, về sau trở thành danh từ chung chỉ kinh đô của một nước. Vì vậy người Tràng An chính là người Thủ đô, không phải tên gọi riêng của một dòng họ hay một phường phố nào.

Cách gọi ấy mang theo một hàm ý về chuẩn mực. Sống ở nơi được coi là trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, người ta tự đặt ra cho mình một thước đo về lời ăn tiếng nói, về cách ăn mặc, về cách cư xử với người xung quanh. Cái thước đo đó không được viết thành văn bản, mà truyền qua nếp nhà, qua lời nhắc của người lớn, qua cái nhìn của hàng xóm.

Điều đáng chú ý là định nghĩa dân gian không gắn Tràng An với một địa chỉ hành chính cụ thể. Nó gắn với một phong cách. Đây là điểm quan trọng để hiểu phần sau của bài: nếu thanh lịch là phong cách chứ không phải hộ khẩu, thì người nhập cư vẫn có thể có cốt cách Tràng An, và người sinh ra ở Hà Nội vẫn có thể không có.

Thanh lịch nghĩa là gì theo cách cắt nghĩa của người trong cuộc?

Cách cắt nghĩa được trích dẫn nhiều nhất hiện nay đến từ nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy (1900-1994), trong sách Hà Nội thanh lịch do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1996. Ông viết: Phong độ người Hà Nội là thanh lịch. Thanh, trong sáng, không tục, không thô lỗ. Lịch, lịch thiệp, lịch lãm, lịch sự.

Cách tách chữ này rất đáng lưu ý vì nó đặt hai vế ngang nhau. Thanh nói về sự sạch sẽ trong lời nói và trong cách thể hiện, không tục tĩu, không thô lỗ. Lịch nói về cách đối xử với người khác, có lễ độ, có hiểu biết, có phép tắc. Một người chỉ sạch sẽ mà cộc cằn thì chưa đủ, một người chỉ lễ phép mà ăn nói thô thì cũng chưa đủ.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc, người cũng sinh ra và lớn lên ở phố cổ Hà Nội, kể lại trong cùng bài báo những quan sát cụ thể hơn. Ông nhớ cảnh dân phố cổ thời thuộc địa ăn mặc đơn sơ nhưng trang nhã, nếu phải mặc áo vá thì theo tinh thần đói cho sạch, rách cho thơm; lời nói nhẹ nhàng, văn vẻ, dễ nghe; biết nhường nhịn nhau trong sinh hoạt hằng ngày. Ông cũng nhớ những vại nước vối để ở vỉa hè cùng vài chiếc bát sạch cho khách qua đường uống tự nhiên.

Đây là những mô tả về một thời đã qua, và cần đọc chúng như ký ức của người trong cuộc, không phải như bản mô tả đầy đủ về toàn bộ Hà Nội thời đó.

Câu ca dao Chẳng thơm cũng thể hoa nhài nghĩa là gì?

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An là câu ca dao được nhắc nhiều khi bàn về chủ đề này. Cần đọc nó cho đúng.

Vế thứ nhất lấy hoa nhài làm chuẩn mực của sự thơm. Hoa nhài không phải loài hoa rực rỡ nhất, nhưng mùi hương của nó được coi là thanh khiết và bền. Vế thứ hai chuyển sang chuyện người. Cách nói chẳng thơm cũng thể hoa nhài có nghĩa là dù không đạt tới mức hoàn hảo, thì ít nhất cũng ở trong cái loại ấy, cái hạng ấy.

Vì vậy, câu ca dao không phải một lời khẳng định rằng hễ là người Tràng An thì đương nhiên thanh lịch. Nó là một cách nói vừa tự hào về gốc gác vừa tự nhắc mình phải giữ nếp, theo kiểu dù thế nào thì cũng phải xứng với cái danh ấy. Đọc theo hướng này thì câu ca dao mang tính ràng buộc nhiều hơn là tính khoe khoang.

Cũng cần nói rõ: đây là một câu ca dao được truyền miệng, không có một bản gốc duy nhất, và cách hiểu câu này có thể khác nhau giữa các tác giả. Bài viết này theo cách đọc phổ biến trong các tài liệu về văn hóa Hà Nội, xem câu ca dao là một chuẩn mực tự ràng buộc chứ không phải một bản tuyên ngôn về ưu thế của người Hà Nội so với nơi khác.

Nếp ăn nếp nói của người Tràng An gồm những gì?

Từ các ghi chép kể trên, có thể rút ra một số nét được nhắc tới nhiều nhất. Cần lưu ý đây là các nét được các tác giả ghi nhận trong một bối cảnh cụ thể là phố cổ Hà Nội thế kỷ 20, không phải một bản mô tả áp dụng cho mọi người Hà Nội ở mọi thời kỳ.

Nét ứng xửBiểu hiện cụ thể được ghi nhận
Lời ăn tiếng nóiNói nhẹ nhàng, văn vẻ, dễ nghe, tránh lời tục tĩu và thô lỗ
Trang phụcĐơn sơ nhưng trang nhã, áo vá vẫn giữ sạch sẽ, gọn gàng
Ứng xử với hàng xómBiết nhường nhịn trong sinh hoạt hằng ngày, ít khi ăn to nói lớn
Khi có điều chướng tai gai mắtGóp ý tế nhị, kín đáo, tránh đôi co trực diện
Với người qua đườngĐể vại nước vối và bát sạch ở vỉa hè cho khách uống
Trong kinh doanhGiữ chữ tín, lịch thiệp với khách dù khách không mua
Trong gia đìnhGiữ nếp nhà, con cháu được nhìn theo cách có giữ được nếp hay không

Bảng trên tổng hợp các nét xuất hiện trong hai nguồn tham khảo của bài. Đây không phải một danh sách đóng, và các tác giả khác có thể bổ sung hoặc nhấn mạnh khác đi.

Vì sao nét thanh lịch ấy lại gắn với Hà Nội mà không phải nơi khác?

Có vài lý do thường được nêu. Thứ nhất, Hà Nội là kinh đô lâu đời, nơi tập trung quan lại, nho sĩ, thợ thủ công giỏi và thương nhân. Một nơi có nhiều tầng lớp giao tiếp với nhau trong không gian chật hẹp như phố cổ sẽ hình thành những quy tắc ứng xử ngầm để tránh va chạm.

Thứ hai, phố cổ là không gian sống chen chúc. Nhà nhỏ, ngõ hẹp, hàng xóm sát vách. Trong điều kiện ấy, việc giữ tiếng nói nhỏ, giữ sự ý tứ, giữ lịch sự với người bên cạnh không chỉ là chuyện đẹp mà còn là chuyện cần thiết để sống chung được.

Thứ ba, đây là nơi có nghề buôn bán phát triển lâu đời. Bài Mạch ngầm văn hóa Tràng An trên báo Nhân Dân kể câu chuyện nhà nghiên cứu Giang Quân từng thuật lại về phố Hàng Đào trước năm 1954: khách lật đi lật lại những tấm vải, bắt chủ nhà bắc thang lấy vải xuống xem nhiều lần, rồi ra về mà không mua gì. Ông chủ hàng vẫn cúi đầu chào và mời khách đi hàng khác, nếu hàng tốt và giá rẻ hơn thì mua, bằng không thì mời quay lại. Cách xử sự ấy được bài báo gọi là sự lịch thiệp, tử tế làm nên thương hiệu kinh doanh của người Hà Nội.

Cũng trong bài này, câu chuyện về một gia đình kinh doanh đồ sứ, đồ thờ ở phố Tô Tịch cho thấy một mặt khác của nếp ấy. Khi người con đề xuất quảng bá qua mạng và giao dịch trực tuyến, ông chủ trả lời rằng làm vậy thì mình sẽ khác gì những gia đình khác, và rằng việc khách chỉ có thể mua một số mặt hàng cao cấp ở đúng địa chỉ này mới là thế mạnh. Bài báo nhận xét rằng người Hà Nội cũ thể hiện cái sang bằng văn hóa chứ không phải bằng sự phô trương.

Cách hiểu này có gì đáng tranh luận?

Có ít nhất hai điểm cần nói rõ để tránh tuyệt đối hóa.

Điểm thứ nhất là chuyện ai được coi là người Hà Nội. Bài trên báo Nhân Dân nêu thẳng vấn đề: Hà Nội là đất tụ cư, nên danh xưng người Hà Nội không dễ thống nhất. Cách đo thô nhất là đếm số đời sống ở Hà Nội, thường là ba bốn đời. Cách đo tinh hơn là xét cái chất Tràng An, mà theo bài báo thì chất này không hẳn phụ thuộc vào thời gian, mà phần nhiều phụ thuộc vào độ thẩm thấu giá trị. Nói cách khác, có những gương mặt văn hóa Thăng Long nhưng không sinh ở Hà Nội.

Điểm thứ hai là chuyện mai một. Cũng bài báo này ghi nhận rằng sau năm 1954, khi cư dân các tỉnh, các vùng, miền khác chuyển về, những ngôi nhà phố cổ được chia nhỏ cho người mới tới, và va chạm trong sinh hoạt hằng ngày là điều tất yếu. Bài báo cũng nêu số liệu: năm 1954 Hà Nội có 53 nghìn dân, còn nay là hơn bảy triệu, chủ yếu tăng cơ học. Tác giả gọi hiện tượng này là thẩm thấu ngược và coi đó là nguy cơ hiện hữu đối với văn hóa Tràng An.

Ở đây cần cẩn trọng về cách diễn đạt. Việc dân số tăng nhanh do nhập cư là một dữ kiện. Việc quy kết rằng người nhập cư làm mai một văn hóa là một cách lý giải, và cách lý giải này có thể không được mọi người chia sẻ. Bài viết ghi nhận cả hai: có người lo ngại như tác giả bài báo, và cũng có cơ sở để nhìn rằng chính sự giao thoa lâu dài tạo nên diện mạo văn hóa Hà Nội qua các thời kỳ.

Phần nào của nếp thanh lịch còn sống tới hôm nay?

Đây là câu hỏi khó trả lời dứt khoát, vì không có một cuộc đo lường nào cho loại giá trị này. Có thể nêu một số quan sát từ chính các nguồn tham khảo.

Về phía mất đi, bài trên báo Nhân Dân ghi nhận rằng người Hà Nội cũ có xu hướng thu mình lại, sống kín đáo khi không gian sống bị chia nhỏ và có nhiều người mới đến. Tác giả cũng nhận xét rằng những giá trị vẫn được trao truyền nhưng trong một phạm vi hẹp, và không tránh được những trường hợp bị cuốn đi theo lối sống mới.

Về phía còn lại, bài báo ghi nhận một số biểu hiện đương đại. Chính quyền thành phố đã ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức và Quy tắc ứng xử nơi công cộng. Trên mạng xã hội, có những bạn trẻ lập diễn đàn để tìm về và bảo tồn nét văn hóa ứng xử người Tràng An. Những câu chuyện về ứng xử trong gia đình, về hàng cây, góc phố, mái nhà Hà Nội được viết ra và chia sẻ.

Bài trên báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đưa ra một cách nhìn khác, hướng tới tương lai. Tác giả cho rằng trong cuộc sống hiện đại, nơi người ta thường xuyên chuyển chỗ sống và làm việc, nếu ai đó biết tu thân để thành người thanh lịch thì họ đã mang cốt cách người Tràng An mà không cần sở hữu mảnh đất hay căn hộ nào ở Hà Nội.

Hai cách nhìn này không mâu thuẫn nhau. Cách thứ nhất nhìn từ phía cộng đồng và không gian đô thị, lo rằng nếp cũ đang phai. Cách thứ hai nhìn từ phía cá nhân, cho rằng nếp ấy có thể được giữ ở bất cứ đâu miễn là người ta chịu tu dưỡng. Điểm chung là cả hai đều không cho rằng thanh lịch là thứ tự nhiên có được nhờ sinh ra đúng chỗ.

Vậy câu ca dao còn đúng tới đâu?

Nếu hiểu câu ca dao theo nghĩa hễ là người Tràng An thì đương nhiên thanh lịch, thì cách hiểu ấy không còn phù hợp với một thành phố hơn bảy triệu dân và liên tục biến động như hiện nay. Cả hai nguồn tham khảo đều không khẳng định điều đó.

Nếu hiểu câu ca dao theo nghĩa người Tràng An có một chuẩn mực để noi theo, và việc giữ được chuẩn mực ấy là điều đáng quý, thì cách hiểu ấy vẫn còn chỗ đứng. Nó chuyển từ một đặc quyền gắn với gốc gác thành một tiêu chuẩn gắn với hành vi.

Cách hiểu thứ hai có một hệ quả thực tế đáng lưu ý: nó không loại trừ ai. Người sinh ra ở Hà Nội vẫn có thể bị nhắc nhở nếu ăn nói thô lỗ, và người từ nơi khác đến vẫn có thể được ghi nhận nếu ứng xử ý tứ. Đây có lẽ là phần sống động nhất của câu ca dao cho tới hôm nay.

Tổng kết

Người Tràng An thanh lịch là một khái niệm văn hóa, không phải một đặc điểm sinh học hay một đặc quyền hành chính. Nội dung của nó, theo cách cắt nghĩa được ghi lại trong các tài liệu về Hà Nội, xoay quanh lời ăn tiếng nói trong sáng, cách đối xử lịch thiệp, sự ý tứ với người xung quanh và chữ tín trong làm ăn. Câu ca dao Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An nên được đọc như một lời tự nhắc hơn là một lời khoe. Các nguồn đương đại ghi nhận nếp ấy đã phai đi nhiều so với thời phố cổ còn nguyên vẹn, nhưng vẫn tồn tại dưới dạng những thực hành nhỏ, những diễn đàn, những quy tắc ứng xử, và quan trọng hơn là một tiêu chuẩn mà bất cứ ai cũng có thể chọn noi theo.

Câu hỏi thường gặp

Người Tràng An là gì và vì sao lại gọi là Tràng An?

Tràng An vốn là kinh đô của Trung Quốc thời Hán, về sau trở thành danh từ chung chỉ kinh đô của một nước. Trong ngữ cảnh Việt Nam, người Tràng An là cách gọi cũ chỉ người sống ở kinh đô, cụ thể là người Thăng Long, Hà Nội. Cách gọi này không gắn với một dòng họ hay phường phố cụ thể mà gắn với phong cách sống của người Thủ đô.

Thanh lịch trong người Tràng An thanh lịch được cắt nghĩa như thế nào?

Theo nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy, thanh nghĩa là trong sáng, không tục, không thô lỗ; lịch nghĩa là lịch thiệp, lịch lãm, lịch sự. Hai vế được đặt ngang nhau, nên một người chỉ sạch sẽ mà cộc cằn thì chưa đủ, và một người chỉ lễ phép mà ăn nói thô thì cũng chưa đủ.

Nếp thanh lịch của người Tràng An còn giữ được tới hôm nay không?

Không có câu trả lời dứt khoát vì đây là một giá trị khó đo lường. Bài trên báo Nhân Dân ghi nhận nếp ấy đã phai đi nhiều sau khi phố cổ bị chia nhỏ cho nhiều cư dân mới, nhưng vẫn được trao truyền trong phạm vi hẹp và có những diễn đàn trẻ tìm về. Bài trên báo Quân đội nhân dân Cuối tuần cho rằng người biết tu thân để thanh lịch thì vẫn mang cốt cách Tràng An dù không sống ở Hà Nội.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, Cốt cách người Tràng An
  2. Báo Nhân Dân, Mạch ngầm văn hóa Tràng An

Nội dung này có giúp được bạn không?

#ngườiTràngAn#thanhlịch#vănhóaHàNội#sosánhvùngmiền#phốcổ