
TL;DR: Trong Lục Hào, nguyên thần là hào sinh Dụng thần, kỵ thần là hào khắc Dụng thần, còn cừu thần là hào khắc nguyên thần và sinh kỵ thần. Ba hào này tạo thành một chuỗi sinh khắc khép kín quanh Dụng thần: nguyên thần nuôi Dụng thần, kỵ thần triệt Dụng thần, cừu thần tiếp sức cho kỵ thần. Tăng san bốc dịch dành hai chương riêng để phân tích khi nào ba hào này có lực và khi nào chúng vô dụng.
Nguyên thần, kỵ thần, cừu thần là gì?
Ba khái niệm này được định nghĩa gọn trong Tăng san bốc dịch, chương 9, thiên "Dụng thần nguyên thần kỵ thần cừu thần chương": hào sinh Dụng thần gọi là nguyên thần, hào khắc Dụng thần gọi là kỵ thần, còn hào khắc nguyên thần và sinh kỵ thần gọi là cừu thần[1].
Nói cách khác, mọi hào trong quẻ đều được đặt tên theo quan hệ của nó với Dụng thần, tức hào đại diện cho việc đang hỏi. Dụng thần là trung tâm, các hào còn lại chia thành hai phe: phe trợ lực (nguyên thần) và phe đối kháng (kỵ thần, cừu thần).
Nguyên thần không phải một hào cố định; nó đổi theo Dụng thần. Hỏi về cha mẹ thì Dụng thần là hào Phụ mẫu: hào Quan quỷ sinh Phụ mẫu nên là nguyên thần, hào Thê tài khắc Phụ mẫu là kỵ thần, hào Tử tôn khắc Quan quỷ và sinh Thê tài là cừu thần. Hỏi về tiền tài thì Dụng thần là hào Thê tài: hào Tử tôn là nguyên thần, hào Huynh đệ là kỵ thần, hào Phụ mẫu là cừu thần. Vì vậy ba tên gọi này chỉ xác định được sau khi đã chọn Dụng thần.
Vì sao cừu thần lại khắc nguyên thần và sinh kỵ thần?
Cừu thần là mắt xích thứ ba trong chuỗi sinh khắc. Nó không trực tiếp đánh vào Dụng thần, mà đánh vào hậu phương của Dụng thần. Cừu thần làm suy yếu nguyên thần, đồng thời tiếp sức cho kỵ thần, khiến kỵ thần mạnh thêm để khắc Dụng thần.
Trong ngũ hành, quan hệ này vận hành theo vòng tương sinh và tương khắc. Lấy ví dụ Dụng thần là Mộc. Nguyên thần là Thủy (Thủy sinh Mộc). Kỵ thần là Kim (Kim khắc Mộc). Cừu thần là Thổ, vì Thổ khắc Thủy (khắc nguyên thần) và Thổ sinh Kim (sinh kỵ thần). Như vậy, Thổ đứng về phe đối kháng, làm hao tổn nguồn nuôi dưỡng của Mộc và tăng cường lực lượng triệt hạ Mộc.
Áp định nghĩa ấy cho đủ năm hành thì cừu thần luôn rơi vào hành bị Dụng thần khắc:
| Dụng thần | Nguyên thần (sinh Dụng thần) | Kỵ thần (khắc Dụng thần) | Cừu thần (khắc nguyên thần, sinh kỵ thần) |
|---|---|---|---|
| Mộc | Thủy | Kim | Thổ |
| Hỏa | Mộc | Thủy | Kim |
| Thổ | Hỏa | Mộc | Thủy |
| Kim | Thổ | Hỏa | Mộc |
| Thủy | Kim | Thổ | Hỏa |
Khi nào nguyên thần có lực, khi nào vô dụng?
Tăng san bốc dịch chương 10, thiên "Nguyên thần kỵ thần suy vượng chương", liệt kê năm trường hợp nguyên thần đủ sức sinh Dụng thần[2]:
| Trường hợp | Mô tả |
|---|---|
| 1 | Nguyên thần vượng tướng, hoặc lâm nhật nguyệt, hoặc được nhật nguyệt động hào sinh phò |
| 2 | Nguyên thần động hóa hồi đầu sinh, hoặc hóa tiến thần |
| 3 | Nguyên thần trường sinh đế vượng ở nhật thần |
| 4 | Nguyên thần và kỵ thần cùng động |
| 5 | Nguyên thần vượng động, lâm không hóa không |
Hai trường hợp cuối cần đọc kỹ. Ở trường hợp thứ tư, kỵ thần động thì sinh nguyên thần, nguyên thần động lại sinh Dụng thần, thành thế sinh nối tiếp, như quẻ Đại Quá ở mục ví dụ bên dưới. Ở trường hợp thứ năm, sách bác lối coi hào lâm không, hóa không là vô dụng: 'động bất vi không' (動不爲空), hào đã động thì không kể là không, đến ngày xung không, thực không thì có dụng[2].
Ngược lại, sách nêu sáu trường hợp nguyên thần không đủ sức sinh Dụng thần[2]:
- Nguyên thần hưu tù, không động, hoặc động mà hưu tù lại bị thương khắc
- Nguyên thần hưu tù lại gặp tự không, nguyệt phá
- Nguyên thần hưu tù động hóa thoái thần
- Nguyên thần suy lại tuyệt
- Nguyên thần nhập tam mộ
- Nguyên thần hưu tù động hóa tuyệt, hóa khắc, hóa phá, hóa tán
Sách kết luận: những trường hợp này là "vô dụng chi nguyên thần, tuy hữu như vô", nghĩa là có cũng như không[2].
Kỵ thần mạnh yếu ra sao?
Tăng san bốc dịch cũng chia kỵ thần thành hai nhóm rõ rệt. Năm trường hợp kỵ thần động và khắc hại được Dụng thần[2]:
- Kỵ thần vượng tướng, hoặc gặp nhật nguyệt động hào sinh phò, hoặc lâm nhật nguyệt
- Kỵ thần động hóa hồi đầu sinh
- Kỵ thần vượng động, động lâm không hóa không
- Kỵ thần trường sinh đế vượng ở nhật thần
- Kỵ thần và cừu thần cùng động
Nhóm này được sách gọi là "như phủ kích chi kỵ thần" (如斧戟之忌神), tức kỵ thần như búa như kích, và sách viết mọi việc hỏi đều đại hung[2].
Bảy trường hợp kỵ thần tuy động mà không khắc được Dụng thần[2]:
- Kỵ thần hưu tù không động, hoặc động mà hưu tù bị nhật nguyệt động hào khắc
- Kỵ thần tĩnh lâm không phá
- Kỵ thần nhập tam mộ
- Kỵ thần suy động hóa thoái thần
- Kỵ thần suy lại tuyệt
- Kỵ thần động hóa tuyệt, hóa phá, hóa khắc, hóa tán
- Kỵ thần và nguyên thần cùng động
Nhóm này là "vô lực chi kỵ thần", mọi việc hóa hung thành cát[2].
Ví dụ cụ thể trong Tăng san bốc dịch
Sách đưa ra một ví dụ về nguyên thần và kỵ thần cùng động. Tháng Tỵ ngày Ất Mùi, tự hỏi bệnh của mình, được quẻ Trạch Phong Đại Quá biến Hỏa Phong Đỉnh[2].
Thế hào Hợi thủy là Dụng thần. Hào Mùi thổ là kỵ thần động khắc Hợi thủy. Nhưng hào Dậu kim là nguyên thần cũng động. Kỵ thần Mùi thổ không trực tiếp khắc Dụng thần, mà sinh nguyên thần Dậu kim, rồi Dậu kim sinh Hợi thủy. Chuỗi sinh khắc chuyển từ tương khắc thành tương sinh, "hóa hung nhi vi cát"[2].
Tuy nhiên, Hợi thủy bị tháng Tỵ xung, ngày Mùi khắc, tức đã lâm nguyệt phá lại bị khắc, nên sách viết dù có sinh phò cũng không dậy nổi, ví như cây không rễ, "hàn cốc bất hồi xuân". Sách chép người này mất ngày Quý Mão, là ngày xung mất nguyên thần Dậu kim[2]. Sách gọi đây là trường hợp Dụng thần vô căn: nguyên thần có lực cũng khó sinh.
Một ví dụ khác ở chương 9: tháng Thìn ngày Mậu Thân, hỏi về cha mới ốm, được quẻ Càn vi Thiên biến Phong Thiên Tiểu Súc[1]. Quẻ có ba hào Phụ mẫu là Tuất thổ, Thìn thổ và hào biến Mùi thổ. Sách chọn Thìn thổ làm Dụng thần vì lâm nguyệt kiến. Nguyên thần là Ngọ hỏa (hỏa sinh thổ). Kỵ thần là Dần mộc (mộc khắc thổ). Dần mộc bị ngày Thân xung nên ám động, khắc Thìn thổ, vì thế bệnh nặng. Ngọ hỏa tuy động nhưng hóa ra Mùi thổ, Ngọ với Mùi hợp nhau nên không sinh được Thìn thổ. Dã Hạc đoán đợi ngày Sửu xung mất Mùi thổ, Ngọ hỏa hết bị hợp thì bệnh lui; sách chép người cha dậy được vào ngày Sửu[1].
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi đọc quẻ theo nguyên thần, kỵ thần, cừu thần
Khi giải quẻ, việc đầu tiên là xác định Dụng thần, rồi từ đó vẽ ra ba tầng quan hệ. Nguyên thần có lực hay không phụ thuộc vào vượng suy của nó, chứ không chỉ vào việc nó có mặt trong quẻ. Một nguyên thần hưu tù, nhập mộ, hoặc hóa thoái thì dù sinh Dụng thần cũng khó phát huy tác dụng. Kỵ thần cũng vậy, nếu bị nhật nguyệt khắc chế hoặc hóa không hóa phá thì không đáng ngại.
Cừu thần thường bị bỏ qua khi mới học, nhưng nó là mắt xích quyết định trong nhiều trường hợp. Khi kỵ thần và cừu thần cùng động, sức khắc phá Dụng thần tăng lên đáng kể. Ngược lại, nếu nguyên thần và kỵ thần cùng động, nguyên thần có thể chuyển hóa thế khắc thành thế sinh, như ví dụ trong Tăng san bốc dịch đã dẫn.
Điều quan trọng nhất mà Tăng san bốc dịch nhấn mạnh là Dụng thần phải có căn. Nếu Dụng thần vô căn, nguyên thần có lực cũng không sinh nổi, kỵ thần vô lực cũng không đáng mừng. Đây là nguyên tắc nền tảng để đánh giá toàn bộ cục diện sinh khắc trong quẻ Lục Hào.