Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Hào động và quẻ biến trong Lục Hào đọc theo thứ tự nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Hào động và quẻ biến trong Lục Hào đọc theo thứ tự nào?

TL;DR: Trong Lục Hào, hào động là hào gieo ra cung "lão" (ba đồng xu cùng mặt), và mỗi hào động lật thành hào đối ứng để sinh ra quẻ biến. Cách đọc theo Tăng san bốc dịch: lấy quẻ gốc và hào động làm nền để xác định dụng thần, cát hung; quẻ biến chỉ dùng để xét hào động biến ra hào nào, hào biến ấy sinh hay khắc trở lại chính hào động của nó, chứ không sinh khắc các hào khác. Quẻ biến không thay thế quẻ gốc, nó là lớp thông tin về hướng chuyển và hậu vận của sự việc.

Hào động và quẻ biến là gì?

Hào động là hào mà khi gieo quẻ cho ra cung "lão": ba đồng xu cùng ra mặt lưng (lão dương, ký hiệu ○) hoặc cùng ra mặt chữ (lão âm, ký hiệu ×). Theo phần Chiêm quái pháp chép kèm Tăng san bốc dịch, một mặt lưng hai mặt chữ là "đơn", vẽ một vạch liền; hai mặt lưng một mặt chữ là "sách", vẽ một vạch đứt; ba mặt lưng là "trọng", vẽ ○; ba mặt chữ là "giao", vẽ ×[1]. Chỉ hai loại ○ và × mới là hào động. Sáu lần gieo từ dưới lên cho ra một quẻ sáu hào, gọi là quẻ gốc.

Quẻ biến là quẻ thứ hai được dựng từ quẻ gốc bằng cách lật từng hào động: ○ (lão dương) lật thành vạch đứt, × (lão âm) lật thành vạch liền, còn các hào không động thì giữ nguyên. Tăng san bốc dịch viết rõ: "六爻不動則不變,動則必變", nghĩa là sáu hào không động thì quẻ không biến, hễ động thì tất biến[1]. Ví dụ sách nêu: quẻ đơn Càn (ba vạch liền) mà hào dưới cùng động thì hào ấy lật từ vạch liền thành vạch đứt, Càn biến thành Tốn[1].

Cần phân biệt: quẻ gốc là tình hình hiện tại, còn quẻ biến là chiều hướng sự việc chuyển sang. Cả hai cùng tồn tại, không thay thế nhau.

Quẻ gốc đổi thành quẻ nào?

Quy tắc lật hào rất cơ học, không phụ thuộc vào ý nghĩa quẻ: cứ nhìn hào nào có ○ hoặc × thì lật hào ấy, các hào còn lại giữ nguyên. Số hào động có thể từ một đến sáu. Nếu một hào động, quẻ biến chỉ khác quẻ gốc đúng một hào. Nếu sáu hào đều động, quẻ biến là quẻ đối của quẻ gốc (hào dương thành âm, hào âm thành dương).

Quẻ gốcHào độngQuẻ biếnCách lật
Quẻ đơn Càn (☰)Hào dưới ○Quẻ đơn Tốn (☴)Hào dưới dương thành âm
Quẻ đơn Càn (☰)Hào trên và hào dưới ○Quẻ đơn Khảm (☵)Hào trên và hào dưới dương thành âm
Quẻ đơn Khôn (☷)Hào giữa ×Quẻ đơn Khảm (☵)Hào giữa âm thành dương
Quẻ đơn Khôn (☷)Cả ba hào ×Quẻ đơn Càn (☰)Mọi hào âm đều thành dương
Thủy Thiên NhuHào sơ, hào tam ○; hào tứ, hào thượng ×Thiên Thủy TụngHào sơ, hào tam dương thành âm; hào tứ, hào thượng âm thành dương

Bảng trên lấy các ví dụ trực tiếp từ chương Động biến của Tăng san bốc dịch[1]. Bốn dòng đầu là quẻ đơn ba hào, dòng cuối là quẻ kép sáu hào. Điểm cần lưu ý: tên quẻ biến đọc theo thứ tự trên xuống dưới, tức quái ngoại trước, quái nội sau. Ví dụ Thủy Thiên Nhu có ngoại quái Khảm (nước), nội quái Càn (trời), đọc là Thủy Thiên Nhu. Khi biến thành Thiên Thủy Tụng thì ngoại quái là Càn, nội quái là Khảm, đọc là Thiên Thủy Tụng.

Đọc theo thứ tự nào?

Thứ tự đọc trong Lục Hào không phải đọc quẻ gốc trước rồi quẻ biến sau như đọc hai bài độc lập. Tăng san bốc dịch đặt ra nguyên tắc rõ ràng: "變出之爻能生克沖合本位之動爻,不能生克他爻", nghĩa là hào biến ra chỉ có thể sinh, khắc, xung, hợp với chính hào động gốc của nó, không thể sinh khắc các hào khác; và ngược lại, các hào khác cũng không sinh khắc được hào biến[1].

Nói cách khác, quan hệ giữa quẻ gốc và quẻ biến chỉ diễn ra theo từng cặp hào động và hào biến tương ứng. Hào biến không phải một hào độc lập trong quẻ gốc, mà là kết quả chuyển hóa của một hào động cụ thể.

Thứ tự thực hành gồm bốn bước:

  • Bước một, xác định dụng thần: chọn hào trong quẻ gốc đại diện cho việc đang hỏi. Ví dụ hỏi về cha mẹ thì lấy hào Phụ Mẫu, hỏi về tiền của thì lấy hào Thê Tài, hỏi về công danh thì lấy hào Quan Quỷ[1].
  • Bước hai, xét cát hung trên quẻ gốc và hào động: dụng thần vượng hay suy, có được sinh phò hay bị khắc chế, hào động tác động lên dụng thần ra sao.
  • Bước ba, xét hào biến của từng hào động: hào biến sinh trở lại hào động (hồi đầu sinh) hay khắc trở lại hào động (hồi đầu khắc), hoặc hóa tiến thần, hóa thoái thần, hóa không vong, hóa mộ.
  • Bước bốn, tổng hợp để định ứng kỳ: thời điểm sự việc xảy ra thường gắn với các mốc chi, nguyệt, nhật có quan hệ với hào động và hào biến.

Một ví dụ trong Tăng san bốc dịch cho thấy rõ cách đọc này. Tháng Tý, ngày Quý Dậu, người tự hỏi việc hôn nhân, được quẻ Hằng biến thành Đỉnh. Hào Thê Tài Tuất thổ động ở hào ứng, biến thành Tử Tôn Tỵ hỏa; hào thế là Quan Quỷ Dậu kim. Luận đoán: Dậu kim trì thế, Tuất thổ tài động sinh thế, lại được thế ứng tương sinh; Tuất tuy gặp không vong nhưng động thì không tính là không, hôm sau ra không tất ứng việc. Quả nhiên ngày hôm sau được nhận lời, sau vợ chồng bền vững[1]. Lời đoán này chỉ dựa vào hào thế, hào ứng và hào tài động trong quẻ gốc; sách không đem hào biến Tỵ hỏa ra sinh khắc các hào khác trong quẻ.

Hào biến sinh khắc hào nào?

Nguyên tắc "hào biến chỉ sinh khắc hào động gốc của nó" được Tăng san bốc dịch nêu ở chương Động biến sinh khắc xung hợp, kèm ví dụ quẻ Khôn biến Hỏa Địa Tấn gieo tháng Tý ngày Mão. Hào thượng Tử Tôn Dậu kim trì thế động, biến ra Phụ Mẫu Tỵ hỏa, thì Tỵ hỏa chỉ hồi đầu khắc chính hào Dậu kim ấy, không sinh khắc các hào khác. Hào tứ Sửu thổ động thì sinh được Dậu kim ở hào thế, nhưng không sinh được hào Dậu kim do chính nó biến ra, và hào Dậu kim biến ra ấy cũng không sinh khắc hào nào khác[1].

Nhưng có một ngoại lệ quan trọng: nhật nguyệt. Tăng san bốc dịch viết "日月如天,能生克動爻、靜爻、變爻、飛爻、伏爻", nghĩa là nhật thần và nguyệt kiến có quyền sinh khắc tất cả các loại hào, kể cả hào biến[1]. Ngay trong quẻ ví dụ trên, sách chỉ ra: nguyệt kiến Tý thủy khắc được hào Tỵ hỏa biến ra, nhật kiến Mão xung được hào Dậu kim biến ra.

Ở chương Độc phát, Tăng san bốc dịch còn phản bác lối bỏ dụng thần mà chỉ bám vào một hào động để quyết việc. Sách này cho rằng dù có hào độc phát hay độc tĩnh, việc định cát hung và ứng kỳ vẫn phải lấy dụng thần làm chủ, không thể chỉ dựa vào hào động[1]. Điều này củng cố nguyên tắc: quẻ biến là lớp thông tin bổ trợ cho hào động, không phải một hệ chẩn đoán song song.

Những sai lầm thường gặp

Sai lầm thứ nhất là đọc quẻ biến như một quẻ độc lập. Nhiều người tra tên quẻ biến trong sách rồi luận theo ý nghĩa quẻ đó, trong khi Tăng san bốc dịch dùng quẻ biến để xét từng hào động biến ra hào nào, và xét quái biến (hóa sinh, hóa khắc, phản ngâm, phục ngâm) ở các chương Quái biến sinh khắc mộ tuyệt và Phản phục, chứ không luận theo nghĩa của tên quẻ[1].

Sai lầm thứ hai là cho hào biến sinh khắc được mọi hào trong quẻ. Nguyên tắc đã nêu rõ: hào biến chỉ tác động lên chính hào động của nó[1].

Sai lầm thứ ba là bỏ qua nhật nguyệt khi xét hào biến. Nhật nguyệt có quyền sinh khắc hào biến, nên một hào biến có thể bị nhật nguyệt xung phá, làm thay đổi hẳn ý nghĩa của nó[1].

Sai lầm thứ tư là lẫn lộn giữa "hào động" và "hào biến". Hào động là hào trong quẻ gốc; hào biến là hào trong quẻ biến. Hai hào nằm ở hai quẻ khác nhau, chỉ liên hệ với nhau theo cặp.

Quẻ biến có thay thế quẻ gốc không?

Không. Quẻ gốc vẫn là nền tảng để xác định dụng thần, thế ứng, lục thân và cát hung tổng thể. Quẻ biến chỉ cho biết hướng chuyển và hậu vận của từng hào động. Trong ví dụ quẻ Hằng biến Đỉnh ở trên, phán đoán "hôn nhân thành" dựa vào hào thế, hào ứng và hào tài trong quẻ gốc; còn ứng kỳ thì sách lấy ở ngày hào Tuất thổ ra khỏi tuần không[1].

Có thể hình dung quẻ gốc như bản đồ hiện trạng, quẻ biến như mũi tên chỉ hướng đi của những điểm đang chuyển động. Bỏ quẻ gốc thì không còn gì để đọc; bỏ quẻ biến thì thiếu thông tin về động thái.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Khi tự học Lục Hào, nên luyện theo trình tự: ghi quẻ gốc đầy đủ lục thân, ngũ hành, thế ứng; đánh dấu rõ hào nào động, động ra ○ hay ×; dựng quẻ biến bằng cách lật đúng hào động; rồi mới luận. Đừng vội tra ý nghĩa quẻ biến trong sách, vì Tăng san bốc dịch không dùng quẻ biến theo cách đó[1]. Và luôn nhớ: đây là quy ước của một trường phái bói dịch cụ thể, không phải kết luận khoa học về vận mệnh con người.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Hào động là gì và làm sao nhận biết khi gieo quẻ?

Hào động là hào gieo ra cung "lão": ba đồng xu cùng ra mặt lưng (lão dương, ký hiệu ○) hoặc cùng ra mặt chữ (lão âm, ký hiệu ×). Chỉ hai loại này mới động, còn đơn và sách là hào tĩnh. Khi có ○ hoặc ×, hào ấy sẽ lật thành hào đối ứng để sinh ra quẻ biến.

Quẻ biến được dựng như thế nào từ quẻ gốc?

Lật từng hào động: ○ (lão dương) thành vạch đứt, × (lão âm) thành vạch liền, các hào không động giữ nguyên. Tăng san bốc dịch ghi: sáu hào không động thì quẻ không biến, hễ động thì tất biến. Ví dụ quẻ đơn Càn mà hào dưới cùng động thì biến thành quẻ đơn Tốn.

Hào biến có sinh khắc được các hào khác trong quẻ không?

Không. Theo Tăng san bốc dịch, hào biến chỉ sinh, khắc, xung, hợp với chính hào động gốc của nó, không tác động lên các hào khác; ngược lại các hào khác cũng không sinh khắc được hào biến. Ngoại lệ là nhật thần và nguyệt kiến, vì nhật nguyệt có quyền sinh khắc mọi loại hào kể cả hào biến.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnoDã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Chương Động biến sinh khắc xung hợp thứ mười lăm, trang 23 bản Wikisource變出之爻能生克沖合本位之動爻,不能生克他爻。
#LụcHào#HàoĐộng#QuẻBiến#TăngSanBốcDịch#KinhDịch#BóiDịch#QuẻGốc