Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Vì sao cùng một quẻ mà gieo tháng này khác tháng sau: nguyệt kiến, nhật thần và ba trạng thái tuần không, nguyệt phá, ám động trong Lục Hào

Chia sẻ:
Vì sao cùng một quẻ mà gieo tháng này khác tháng sau: nguyệt kiến, nhật thần và ba trạng thái tuần không, nguyệt phá, ám động trong Lục Hào
TL;DR: Cùng một quẻ gieo ở hai thời điểm khác nhau có thể cho kết quả trái ngược, vì sức mạnh của từng hào không nằm ở quẻ mà nằm ở nguyệt kiến (địa chi tháng gieo) và nhật thần (địa chi ngày gieo). Nguyệt kiến ấn định hào nào vượng tướng, hào nào hưu tù; nhật thần gây sinh, khắc, xung, hợp lên từng hào. Trên nền đó, tuần không làm hào mất lực tạm thời, nguyệt phá làm hào suy bại trong tháng, còn ám động là hào bị nhật xung nhưng vẫn đủ khí để tác động ngầm. Các phái Lục Hào không thống nhất về việc tuần không có thực sự hết khi qua tuần, nguyệt phá có hết khi qua tháng, và nhật thần hay nguyệt kiến nặng hơn, nên kết luận cát hung chỉ nên xem là xu hướng.

Vì sao cùng một quẻ mà gieo tháng này lại khác tháng sau?

Cùng một quẻ, cùng một câu hỏi, nhưng gieo vào tháng Dần rồi gieo lại vào tháng Thân, kết quả luận thường lệch nhau, có khi lệch hẳn. Lý do không nằm ở quẻ mà nằm ở hai đại lượng đi kèm thời điểm gieo: nguyệt kiến và nhật thần. Quẻ chỉ là cái khung cố định gồm sáu hào với ngũ hành, lục thân, thế ứng; còn nguyệt kiến và nhật thần là hai nguồn lực bên ngoài rót vào khung đó, làm hào này mạnh lên và hào kia yếu đi. Đổi tháng gieo là đổi nguyệt kiến, đổi ngày gieo là đổi nhật thần, nên trọng số của từng hào thay đổi theo.

Sách Tăng San Bốc Dịch của Dã Hạc lão nhân đặt hai chương riêng là Nguyệt tướng và Nhật thần, đứng ngay sau chương Tứ thời vượng tướng, cho thấy tác giả coi đây là hai trục chính phải nắm trước khi động tới chuyện cát hung. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, ở phần bàn về khí vận tháng, cũng ghi rõ cách gọi: tháng Giêng lấy Dần làm nguyệt kiến, Dần thuộc Mộc nên Mộc vượng, Mão là hào thứ, Hỏa ở thế tướng, các hành còn lại rơi vào hưu tù vô khí. Cách gán này lặp lại cho mười hai tháng, tạo thành bảng vượng tướng hưu tù mà mọi phái Lục Hào đều dùng, dù có nơi gọi tên khác đi đôi chút.

Nguyệt kiến đo sức hào theo tháng như thế nào?

Nguyệt kiến là địa chi của tháng âm lịch tại thời điểm gieo quẻ. Nó đóng vai trò như người chấm điểm cả tháng: hào nào cùng hành với nguyệt kiến thì được coi là vượng, hào được nguyệt kiến sinh ra thì ở thế tướng, hào sinh nguyệt kiến thì ở thế hưu, hào khắc nguyệt kiến thì ở thế tù, hào bị nguyệt kiến khắc thì ở thế tử. Bốn mức vượng, tướng, hưu, tù là thang đo thô, còn tử là mức yếu nhất. Một hào đang hưu tù mà gặp nguyệt kiến sinh phù hoặc được hào động khác trợ lực thì vẫn có thể hồi sức, giống như người năng lực bình thường nhưng được cất nhắc từ bên ngoài.

Nguyệt kiến còn có quyền can thiệp vào quan hệ giữa các hào. Khi một hào động khắc hào tĩnh, nguyệt kiến có thể chế phục hào động đó, làm giảm tác dụng. Khi biến hào khắc hào động, nguyệt kiến cũng có thể chế biến hào. Trường hợp dụng thần bị phục tàng dưới phi thần, nguyệt kiến có thể khắc phi thần đồng thời sinh trợ dụng thần, mở đường cho hào ẩn lộ ra. Nói cách khác, nguyệt kiến không chỉ cho điểm từng hào mà còn đứng ra dàn xếp cuộc chơi giữa các hào.

Một điểm dễ bị bỏ qua: nguyệt kiến tác động lên cả quẻ trong suốt tháng đó, cho nên cùng một quẻ gieo đầu tháng và cuối tháng vẫn có thể khác nhau ở chỗ hào nào đang được nguyệt kiến nâng, hào nào đang bị nguyệt kiến đè, nếu giữa hai lần gieo có hào phát động hoặc có biến hào mới xuất hiện.

Nhật thần khác nguyệt kiến ở chỗ nào?

Nhật thần là địa chi của ngày gieo quẻ. Nếu nguyệt kiến là khí hậu của cả tháng, thì nhật thần là cú huých của riêng ngày hôm đó. Nhật thần có bốn kiểu tác động chính lên một hào: sinh, khắc, xung, hợp. Sinh là rót thêm lực, khắc là bào mòn, xung là làm hào bật lên hoặc vỡ ra tùy trạng thái, hợp là trói hào lại hoặc kéo hào dậy tùy hướng đọc.

Sách Tăng San Bốc Dịch xếp Nhật thần ngay sau Nguyệt tướng, và trong phần luận về động tĩnh, sinh khắc, xung hợp, tác giả nhấn mạnh rằng hào vượng tướng mà được nhật thần sinh phù thì như dệt hoa trên gấm, còn hào suy yếu mà bị nhật thần khắc chế thì như tuyết thêm sương. Cách nói này cho thấy nhật thần không trung tính: nó khuếch đại trạng thái sẵn có của hào, chứ không tạo ra trạng thái mới từ số không.

Nhật thần cũng là thứ quyết định hào nào được coi là ám động, hào nào bị coi là nhật phá. Cùng một hào bị nhật xung, nếu hào đang vượng thì gọi là ám động, nếu hào đang hưu tù vô khí thì gọi là nhật phá. Đây là chỗ nhiều người mới học hay lẫn, vì cả hai trường hợp đều có chữ xung trong mô tả.

Bảng tuần không của sáu tuần Giáp

Tuần không, còn gọi là không vong, sinh ra từ chỗ lệch giữa mười thiên can và mười hai địa chi. Một tuần Giáp gồm mười ngày, ghép mười can với mười trong mười hai chi, nên luôn thừa ra hai chi không được ghép. Hai chi đó là tuần không của tuần ấy. Sách Lục Nhâm, quyển Nhập môn, giải thích cùng phép tính này: mẫu số chung nhỏ nhất của 10 và 12 là 60, nên lấy 10 can ghép 12 chi thành sáu tuần Giáp, mỗi tuần để lại hai chi không dùng, gọi là tuần không. Tuần không có năng lực làm ra không, nghĩa là nó làm mờ lực của hào trong khoảng thời gian tuần đó.

Tuần GiápCác ngày trong tuần (ví dụ)Hai chi tuần không
Giáp TýGiáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý DậuTuất, Hợi
Giáp TuấtGiáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý MùiThân, Dậu
Giáp ThânGiáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý TỵNgọ, Mùi
Giáp NgọGiáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý MãoThìn, Tỵ
Giáp ThìnGiáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý SửuDần, Mão
Giáp DầnGiáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý HợiTý, Sửu

Cách tra: lấy can chi của ngày gieo quẻ, tìm nó thuộc tuần Giáp nào, rồi đọc hai chi tuần không tương ứng. Ví dụ ngày Giáp Tý thì Tuất và Hợi là tuần không; hào nào mang địa chi Tuất hoặc Hợi trong quẻ gieo ngày đó thì bị coi là lâm tuần không. Sách Lục Nhâm nói thêm rằng tuần không không phải lúc nào cũng xấu: hung thần gặp tuần không thì tai họa giảm lực, nhưng cát thần gặp tuần không thì điều may cũng giảm, có khi mất hẳn.

Bảng nguyệt phá theo tháng

Nguyệt phá là trạng thái hào bị nguyệt kiến xung. Theo cách nói được ghi lại trong các tài liệu Lục Hào, hào nào bị nguyệt xung đều gọi là phá. Điểm khác biệt với nhật phá nằm ở chỗ: hào vượng mà bị nhật xung thì gọi là ám động, còn hào hưu tù vô khí mà bị nhật xung thì gọi là nhật phá; nguyệt phá thì nặng hơn, thường được đọc là suy bại, khó xoay chuyển trong tháng đó.

Tháng (địa chi nguyệt kiến)Chi bị xung, tức chi lâm nguyệt phá
DầnThân
MãoDậu
ThìnTuất
TỵHợi
NgọTý
MùiSửu
ThânDần
DậuMão
TuấtThìn
HợiTỵ
TýNgọ
SửuMùi

Cách dùng: khi gieo quẻ vào tháng Dần, hào nào mang chi Thân thì gọi là lâm nguyệt phá. Bảng này dựng trực tiếp từ quan hệ lục xung giữa các địa chi, nên có thể suy ra từ lõi tính mà không cần gõ tay từng dòng.

Ba trạng thái tiện ích Lục Hào in ra: tuần không, nguyệt phá, ám động nghĩa là gì?

Ba nhãn này không phải ba kiểu hào khác nhau, mà là ba trạng thái chồng lên hào đã có. Một hào có thể vừa lâm tuần không vừa lâm nguyệt phá, cũng có thể đang ám động nhưng lại rơi vào tuần không.

Tuần không: hào nằm trong hai chi không được ghép của tuần Giáp chứa ngày gieo. Hiệu ứng là hào mất lực tạm thời trong tuần đó. Tài liệu Lục Hào ghi lại câu vượng tướng ngộ nhất tuần, quá tuần nhưng hữu dụng, nghĩa là hào vượng tướng gặp tuần không thì qua tuần vẫn dùng được. Trường hợp này gọi là phi không, tức cái không đó không triệt tiêu hẳn sức hào.

Nguyệt phá: hào bị nguyệt kiến xung. Hiệu ứng là hào suy bại trong tháng, bị đọc là mất cơ hội xoay chuyển kết quả. Nhưng nguyệt phá không phải án tử hình: nếu hào nguyệt phá gặp nhật thần trùng chi, hoặc nhật thần hợp khởi, hoặc có hào động sinh trợ, thì vẫn có thể ứng nghiệm theo hướng tích cực, tùy thời gian ứng gần hay xa. Nếu nguyệt phá lại gặp tuần không, lực càng giảm. Nếu nguyệt kiến và nhật thần cùng hành khắc hại hào nguyệt phá, thì gọi là đắc phá, lúc đó hung tính mới thể hiện rõ nhất.

Ám động: hào bị nhật thần xung nhưng vẫn còn khí, hoặc hào hưu tù được hào động sinh, hoặc hào vượng tướng gặp nhật xung. Đặc điểm của ám động là lực không bền nhưng trong thời gian ngắn thì mạnh không kém hào minh động. Vì vậy ám động thường dùng để luận việc ngắn hạn: một cuộc gặp, một quyết định nhanh, một sự kiện vài ngày. Khi hào ám động không được thực chứng trong thực tế, nó chuyển sang trạng thái hư ảo, mất khả năng sinh trợ, quay về nhật phá, và có thể khiến kết cục đi theo hào minh động hoặc theo các hào khác mà không có sự trợ giúp của nó.

Trả lời thẳng câu "dụng thần mạnh hay yếu" mà tiện ích in

Khi một tiện ích Lục Hào in ra dòng kiểu dụng thần vượng hay dụng thần suy, nó đang gộp bốn lớp thông tin lại. Lớp thứ nhất là trạng thái vượng tướng hưu tù theo nguyệt kiến: dụng thần cùng hành nguyệt kiến thì vượng, được nguyệt kiến sinh thì tướng, sinh nguyệt kiến thì hưu, khắc nguyệt kiến thì tù, bị nguyệt kiến khắc thì tử. Lớp thứ hai là tác động của nhật thần: sinh, khắc, xung, hợp. Lớp thứ ba là các nhãn tuần không, nguyệt phá, ám động, nhật phá chồng lên hào. Lớp thứ tư là quan hệ với hào động và biến hào: hào động sinh dụng thần thì tăng, hào động khắc dụng thần thì giảm, biến hào sinh hào động thì tăng, biến hào khắc hào động thì giảm.

Một dụng thần vượng tướng, được nhật thần sinh, không lâm tuần không, không lâm nguyệt phá, lại có hào động sinh trợ, thì tiện ích in ra là dụng thần vượng. Một dụng thần hưu tù, bị nhật thần khắc, lại lâm nguyệt phá, thì in ra là dụng thần suy. Các trường hợp lẫn lộn, ví dụ nguyệt khắc mà nhật sinh, hoặc nhật khắc mà nguyệt sinh, thường được đọc là ngang nhau, phải xét thêm hào động mới quyết. Sách Tăng San Bốc Dịch trong phần bàn về nguyệt tướng và nhật thần cũng đi theo hướng này: nguyệt kiến và nhật thần có sức mạnh lớn hơn hào động, nhưng khi hai bên đối chọi thì hào động là lá phiếu phá thế.

Chỗ các phái không thống nhất

Bốn điểm sau đây là chỗ các sách và các phái Lục Hào hay nói khác nhau. Bài này không chọn một bên làm chuẩn, chỉ ghi lại các cách đọc đang lưu hành.

Về xung không tắc thực: có phái cho rằng hào lâm tuần không mà bị nhật thần hoặc hào động xung thì cái không bị phá, hào trở lại hữu dụng, gọi là xung không tắc thực. Phái khác giữ quan điểm hào lâm tuần không vẫn bị coi là không cho tới khi hết tuần, trừ khi có hợp hoặc có điền thực.

Về chân không và giả không: có cách phân biệt hào vượng tướng lâm tuần không là giả không, tức không tạm thời, qua tuần dùng được; hào hưu tù lâm tuần không là chân không, tức mất lực thật. Cách phân biệt này không được mọi sách dùng, có sách chỉ nói tuần không là tuần không, không chia chân giả.

Về nguyệt phá có hết khi qua tháng không: một số tài liệu cho rằng nguyệt phá chỉ có hiệu lực trong tháng đó, qua tháng là hết, trừ khi hào bị nhật thần khắc hại thêm. Số khác lại cho rằng nguyệt phá để lại dư âm, nhất là khi hào không được sinh phù trở lại, nên phải xét cả tháng sau mới đủ.

Về nhật thần hay nguyệt kiến nặng hơn: đa số tài liệu đặt nguyệt kiến nặng hơn vì nó bao trùm cả tháng, nhật thần chỉ mạnh trong ngày. Nhưng cũng có cách đọc cho rằng nhật thần là cái đang diễn ra trước mắt, nên với việc hỏi về chuyện sắp tới trong vài ngày thì nhật thần phải được đặt lên trước. Sách Tăng San Bốc Dịch trong phần luận về tam truyền có nói khi nguyệt khắc mà nhật sinh, hoặc nhật khắc mà nguyệt sinh, thì coi là ngang nhau, phải xem hào động. Đây là chỗ sách chấp nhận cả hai chiều chứ không chốt một bên.

Cùng phép tính tuần không, nhưng Bát Tự và Tử Vi đọc khác

Cùng một phép tính tuần không, ba môn dùng khác nhau. Trong Bát Tự, tuần không được xác định theo tuần Giáp của can ngày sinh hoặc can năm sinh, rồi đối chiếu với địa chi các trụ năm, tháng, giờ để tìm chỗ phạm không vong. Sách Bát Tự ghi lại cách tra theo tuần Giáp Tý không tại Tuất Hợi, Giáp Tuất không tại Thân Dậu, Giáp Thân không tại Ngọ Mùi, Giáp Ngọ không tại Thìn Tỵ, Giáp Thìn không tại Dần Mão, Giáp Dần không tại Tý Sửu, và có nơi còn nói tới hỗ hoán không vong giữa năm và ngày, hoặc ngày và giờ. Trong Tử Vi, phép tính tuần không cho ra sao Tuần, và sao Tuần được đọc như một yếu tố làm mờ cung hoặc làm chậm ảnh hưởng của sao tại cung đó, chứ không mang nghĩa mất lực tạm thời như trong Lục Hào. Ba môn dùng chung một phép đếm, nhưng ngữ nghĩa gán cho kết quả thì khác nhau, nên không nên lấy cách đọc của môn này áp thẳng sang môn kia.

Những chỗ dễ luận sai

Một lỗi phổ biến là thấy hợp thì mừng, cho rằng hợp hóa giải được khắc. Thực tế thường là khắc diễn ra trước, sau đó hợp mới khiến hai bên giảng hòa, nên sự việc vẫn có tổn thất rồi mới ổn định. Một lỗi khác là đọc tuần không và nguyệt phá như hai nhãn cùng loại, trong khi tuần không chỉ có hiệu lực trong tuần, còn nguyệt phá có hiệu lực trong tháng, hai khung thời gian khác nhau. Lỗi thứ ba là đọc ám động như hào minh động, trong khi ám động lực ngắn, không bền, chỉ hợp với việc ngắn hạn.

Một điểm cần nhớ khi tự đọc bảng: các bảng tuần không và nguyệt phá trong bài này được dựng từ quan hệ can chi và lục xung, không phải dữ liệu chép tay, nên có thể kiểm chứng lại bằng cách đối chiếu với lịch can chi của ngày và tháng gieo quẻ. Nếu kết quả tra bảng khác với kết quả một tiện ích in ra, nên kiểm tra lại xem tiện ích đó lấy can chi ngày theo múi giờ nào, vì đây là chỗ hay lệch một ngày, kéo theo lệch cả tuần không.

Kết luận nên đọc thế nào

Nguyệt kiến và nhật thần không thay đổi quẻ, chúng thay đổi trọng số của từng hào trong quẻ. Vì vậy cùng một quẻ gieo ở hai thời điểm khác nhau có thể cho hai kết quả khác nhau mà không có gì mâu thuẫn. Tuần không, nguyệt phá, ám động là ba nhãn chồng lên hào đã có, mỗi nhãn có khung thời gian riêng: tuần không theo tuần, nguyệt phá theo tháng, ám động theo ngày và thường chỉ mạnh trong ngắn hạn. Khi tiện ích in ra dụng thần vượng hay suy, đó là kết quả gộp của bốn lớp thông tin, không phải một phán quyết tuyệt đối. Các phái còn khác nhau ở cách đọc xung không tắc thực, chân không giả không, nguyệt phá có hết khi qua tháng, và nhật thần hay nguyệt kiến nặng hơn, nên kết luận cát hung chỉ nên xem là xu hướng để tham khảo, không nên dùng để khẳng định chắc chắn về tài chính, sức khỏe hay vận mệnh của một người.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Vì sao cùng một quẻ mà gieo tháng này lại khác tháng sau?

Vì nguyệt kiến (địa chi tháng gieo) thay đổi, làm hào này vượng lên và hào kia hưu tù đi. Quẻ giữ nguyên sáu hào, nhưng trọng số từng hào do nguyệt kiến và nhật thần quyết định, nên kết quả luận có thể lệch nhau.

Tuần không, nguyệt phá và ám động khác nhau ở điểm nào?

Tuần không là hào nằm trong hai chi không được ghép của tuần Giáp chứa ngày gieo, mất lực tạm thời trong tuần. Nguyệt phá là hào bị nguyệt kiến xung, suy bại trong tháng. Ám động là hào bị nhật thần xung nhưng vẫn còn khí, tác động ngầm trong ngắn hạn. Ba nhãn có khung thời gian khác nhau.

Nguyệt phá có hết khi qua tháng không, và nhật thần hay nguyệt kiến nặng hơn?

Các phái không thống nhất. Một số cho rằng nguyệt phá chỉ có hiệu lực trong tháng đó, qua tháng là hết; số khác cho rằng còn dư âm nếu hào không được sinh phù trở lại. Về mức nặng, đa số đặt nguyệt kiến nặng hơn vì bao trùm cả tháng, nhưng cũng có cách đọc ưu tiên nhật thần cho việc hỏi chuyện sắp tới trong vài ngày.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Lục Hào đoán thời điểm sự việc ứng bằng những quy tắc nào: tĩnh đợi ngày trị hoặc ngày xung, động đợi ngày hợp hoặc ngày trị, quá vượng đợi mộ hoặc xung, tuần không đợi ra tuần hoặc gặp xung, nguyệt phá đợi qua tháng hoặc gặp hợp
Kinh Dịch

Lục Hào đoán thời điểm sự việc ứng bằng những quy tắc nào: tĩnh đợi ngày trị hoặc ngày xung, động đợi ngày hợp hoặc ngày trị, quá vượng đợi mộ hoặc xung, tuần không đợi ra tuần hoặc gặp xung, nguyệt phá đợi qua tháng hoặc gặp hợp

Từ một quẻ sinh ra được những quẻ nào: quẻ biến, quẻ hỗ, quẻ thác, quẻ tổng và cách đọc theo số hào động
Kinh Dịch

Từ một quẻ sinh ra được những quẻ nào: quẻ biến, quẻ hỗ, quẻ thác, quẻ tổng và cách đọc theo số hào động

Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần mang sắc thái gì khi đậu trên một hào: vì sao lục thú chỉ tô màu cho hào đã xét vượng suy chứ không tự quyết cát hung?
Kinh Dịch

Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần mang sắc thái gì khi đậu trên một hào: vì sao lục thú chỉ tô màu cho hào đã xét vượng suy chứ không tự quyết cát hung?

Sáu vị hào trong một quẻ Kinh Dịch: đắc vị, đắc trung, ứng, tỷ, thừa và cưỡi được hiểu thế nào?
Kinh Dịch

Sáu vị hào trong một quẻ Kinh Dịch: đắc vị, đắc trung, ứng, tỷ, thừa và cưỡi được hiểu thế nào?

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Tăng San Bốc Dịch (Dã Hạc lão nhân)
  2. Lục Nhâm, quyển 1: Nhập môn
#LụcHào#NguyệtKiến#NhậtThần#TuầnKhông#NguyệtPhá#ÁmĐộng#KinhDịch#BóiQuẻ