Vì sao phải xác định Dương độn hay Âm độn trước khi lập bàn
Muốn lập một bàn Kỳ Môn Độn Giáp cho một ngày giờ cụ thể, việc đầu tiên là biết đang ở Dương độn hay Âm độn, rồi thuộc cục số mấy. Không có hai thông tin này thì không thể an bài cửu tinh, bát môn, bát thần lên chín cung. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, mở đầu phần định cục đã nói rõ: định cục Kỳ Môn thì tiết khí và phù đầu là hai việc cốt yếu nhất, vì tam nguyên phù đầu có định kỳ còn tiết khí bốn mùa thì không cố định, cho nên phải nắm vững phép chính thụ rồi mới dùng tới siêu thần, tiếp khí, chiết bổ và nhuận cục để chỉnh lại cho khớp.

Nguyên lý gốc khá đơn giản: một năm có 24 tiết khí, mỗi tiết khí dài khoảng 15 ngày, chia thành ba nguyên, mỗi nguyên 5 ngày. Nguyên thứ nhất là thượng nguyên, nguyên thứ hai là trung nguyên, nguyên thứ ba là hạ nguyên. Mỗi nguyên ứng với một cục số riêng. Cộng cả năm lại thành 72 cục theo tiết khí, nhưng sau khi loại bỏ những cục trùng lặp thì chỉ còn 18 cục dùng đi dùng lại, gồm 9 cục Dương độn và 9 cục Âm độn.
Tiết khí quyết định Dương độn hay Âm độn như thế nào?
Quy ước phổ biến trong các sách Kỳ Môn là lấy Đông chí và Hạ chí làm hai mốc. Từ Đông chí đến trước Hạ chí dùng Dương độn, từ Hạ chí đến trước Đông chí dùng Âm độn. Cách nhớ dân gian là "đông chí dương sinh, hạ chí âm sinh", vì Đông chí là lúc khí dương bắt đầu sinh trở lại, còn Hạ chí là lúc khí âm bắt đầu sinh trở lại.

Cục số đi kèm cũng theo quy luật đó. Dương độn thì Đông chí dùng cục 1, Tiểu hàn và Đại hàn dùng cục 2 và 3, rồi tiếp tục tăng dần qua các tiết cho đến trước Hạ chí. Âm độn thì Hạ chí dùng cục 9, Tiểu thử và Đại thử dùng cục 8 và 7, rồi giảm dần cho đến trước Đông chí. Cách đếm này có trong nhiều bản Kỳ Môn Độn Giáp, kể cả bản Kỳ Môn Độn Giáp bí kíp toàn thư lưu hành ở Việt Nam.
Một điểm dễ nhầm: Dương độn và Âm độn không phải là hai hệ thống khác nhau, mà chỉ là hai chiều bố cục ngược nhau trên cùng một bàn. Dương độn thì cục số tăng theo chiều thuận, Âm độn thì cục số giảm theo chiều nghịch. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí của Khâu Kim Hán khi bàn về niên cục cũng nhắc lại quy tắc thuận nghịch này, và cho rằng thiên đạo xoay về tả nên phần âm dùng nghịch.
Phù đầu quyết định thượng, trung hay hạ nguyên ra sao?
Theo Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, các ngày Giáp Tý, Kỷ Mão, Giáp Ngọ, Kỷ Dậu là phù đầu của thượng nguyên; các ngày Giáp Dần, Kỷ Tị, Giáp Thân, Kỷ Hợi là phù đầu của trung nguyên; các ngày Giáp Thìn, Kỷ Mùi, Giáp Tuất, Kỷ Sửu là phù đầu của hạ nguyên. Nói cách khác, cứ mỗi 5 ngày thì địa chi của phù đầu chuyển sang một nhóm mới, và nhóm địa chi ấy quyết định đang ở nguyên nào.
Bảng đối chiếu dưới đây tóm tắt quy ước này:
| Nhóm địa chi của phù đầu | Nguyên tương ứng |
|---|---|
| Tý, Ngọ, Mão, Dậu | Thượng nguyên |
| Dần, Thân, Tị, Hợi | Trung nguyên |
| Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Hạ nguyên |
Ví dụ, ngày Giáp Tý thuộc thượng nguyên, ngày Giáp Dần thuộc trung nguyên, ngày Giáp Thìn thuộc hạ nguyên. Hết ba nguyên là hết một tiết khí, sang tiết khí kế tiếp.
Vì sao phù đầu có lúc tới trước tiết khí, có lúc tới sau?
Phù đầu được tính theo chu kỳ 60 ngày của lục thập hoa giáp, còn tiết khí được tính theo vị trí thực của mặt trời trên hoàng đạo. Hai chu kỳ này không chia hết cho nhau, nên phù đầu và tiết khí thường lệch nhau vài ngày. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, gọi hiện tượng phù đầu tới trước tiết khí là "siêu thần", còn tiết khí tới trước phù đầu là "tiếp khí".
Khi siêu thần xảy ra, phù đầu đã tới nhưng tiết khí chưa tới, thì vẫn dùng cục của tiết khí cũ cho đến khi tiết khí mới thực sự giao. Khi tiếp khí xảy ra, tiết khí đã tới nhưng phù đầu chưa tới, thì mượn tạm cục của hạ nguyên tiết khí cũ để dùng cho mấy ngày đầu của tiết khí mới, rồi khi phù đầu mới tới thì chuyển sang cục của tiết khí mới.
Hai phép chỉnh này được gọi chung là chiết bổ. Chiết là cắt bớt phần cục của tiết khí cũ, bổ là bù thêm cục cho tiết khí mới. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy nhấn mạnh rằng không nắm chiết bổ thì siêu thần và tiếp khí không có chỗ dựa, và không nắm nhuận cục thì chiết bổ cũng sai.
Khi nào phải đặt nhuận và vì sao?
Một tiết khí không dài đúng 15 ngày mà dài khoảng 15 ngày 2 giờ 5 khắc, tức là hơn 15 ngày một chút. Cứ mỗi tiết khí dùng 180 giờ (15 ngày x 12 giờ), thì phần dư 2 giờ 5 khắc tích tụ dần. Khi phần dư ấy đủ để làm lệch cả một nguyên, người ta phải đặt thêm một cục nhuận để bù, gọi là nhuận cục. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, viết rõ: phần dư ấy là nhuận cục, và phép đặt nhuận phải dựa trên sự tích tụ của phần dư qua nhiều tiết khí, chứ không phải cứ đến Mang chủng hay Đại tuyết là đặt nhuận như một số người lầm tưởng.
Sách Kỳ Môn Chỉ Quy còn phê phán cách hiểu thông tục rằng hễ qua Mang chủng và Đại tuyết thì đặt nhuận. Theo sách, nếu cứ máy móc đặt nhuận ở hai tiết ấy thì tam nguyên sẽ bị lệch, âm dương sẽ sai, không còn đúng lý. Đây là một điểm mà các phái Kỳ Môn không hoàn toàn thống nhất: một số phái theo lối đặt nhuận cố định ở Mang chủng và Đại tuyết, một số phái khác theo lối chiết bổ linh hoạt dựa trên độ lệch thực tế giữa phù đầu và tiết khí. Bài này trình bày cả hai quan điểm, không khẳng định phái nào là tuyệt đối đúng.
Vì sao 1.080 cục chỉ gom lại còn 18 cục dùng?
Theo Kỳ Môn Độn Giáp bí kíp toàn thư, một năm có 360 ngày, mỗi ngày 12 giờ, thành 4.320 cục nếu tính đủ cho mọi giờ. Nhưng khi bày bàn, người ta nhận ra nhiều cục trùng nhau. Ví dụ Đông chí và Kinh trập cho ra cùng một bố cục, Thanh minh và Lập hạ cho ra cùng một bố cục, Cốc vũ và Tiểu mãn cũng vậy, và còn nhiều cặp tiết khí khác trùng nhau tương tự. Sau khi loại trùng, con số 4.320 rút xuống còn 1.080 cục, tức là mỗi cục bị lặp lại khoảng bốn lần.
Trong 1.080 cục ấy, nếu tính theo tiết khí thì mỗi năm có 24 tiết, mỗi tiết ba nguyên, thành 72 cục. Nhưng 72 cục này cũng trùng lặp, mỗi cục lặp bốn lần, nên rút gọn còn 18 cục: 9 cục Dương độn và 9 cục Âm độn. Con số 18 cục chính là bộ khung tối giản mà người dùng Kỳ Môn thao tác hằng ngày.
Bài ca "Yên ba điếu tẩu Kỳ Môn ca" được dẫn lại trong Kỳ Môn Độn Giáp bí kíp toàn thư cũng ghi đúng lộ trình này: đời trước chế ra 1.080 cục, Thái Công rút còn 72, đến đời Hán Trương Tử Phòng rút còn 18 cục. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, cũng nhắc lại con số 1.080 và 18 trong phần bàn về nhuận cục. Như vậy, 18 cục không phải là một phát minh mới mà là kết quả của việc gom trùng qua nhiều đời.
Từ tuần thủ ra Trực Phù và Trực Sử cho một giờ cụ thể
Sau khi đã có cục số, bước tiếp theo là tìm tuần thủ của giờ đang xét. Tuần thủ là can chi đầu của một tuần 10 giờ trong lục thập hoa giáp. Ví dụ, giờ thuộc tuần Giáp Tý thì tuần thủ là Giáp Tý; giờ thuộc tuần Giáp Tuất thì tuần thủ là Giáp Tuất.
Từ tuần thủ, tra bảng để biết sao nào và cửa nào đang trực. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí của Khâu Kim Hán cho ví dụ cụ thể: trong Dương độn nhất cục, giờ Giáp Tý thì Thiên Bồng là Trực Phù, Hưu Môn là Trực Sử; đến giờ Giáp Tuất thì Thiên Nhuế là Trực Phù, Tử Môn là Trực Sử; đến giờ Giáp Thân thì Thiên Xung là Trực Phù, Thương Môn là Trực Sử; đến giờ Giáp Ngọ thì Thiên Phụ là Trực Phù, Đỗ Môn là Trực Sử; đến giờ Giáp Thìn thì Thiên Cầm là Trực Phù, Tử Môn là Trực Sử; đến giờ Giáp Dần thì Thiên Tâm là Trực Phù, Khai Môn là Trực Sử. Cứ mỗi 10 giờ thì đổi một cặp Trực Phù, Trực Sử.
Bảng tra nhanh cho Dương độn nhất cục:
| Tuần thủ | Trực Phù | Trực Sử |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Thiên Bồng | Hưu Môn |
| Giáp Tuất | Thiên Nhuế | Tử Môn |
| Giáp Thân | Thiên Xung | Thương Môn |
| Giáp Ngọ | Thiên Phụ | Đỗ Môn |
| Giáp Thìn | Thiên Cầm | Tử Môn |
| Giáp Dần | Thiên Tâm | Khai Môn |
Sau khi biết Trực Phù và Trực Sử, người lập bàn an Thiên Bàn theo phép "Trực Phù gia thời can": xem can của giờ đang dùng nằm ở cung nào trên Địa Bàn, rồi đặt sao Trực Phù lên đúng cung ấy. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí minh họa: trong Dương độn nhất cục, giờ Giáp Tý thì Trực Phù là Thiên Bồng, gia vào cung Khảm 1, gọi là phục ngâm; sang giờ Ất Sửu thì Địa Bàn Ất ở cung 9, đem Thiên Bồng gia vào cung 9; giờ Bính Dần thì Địa Bàn Bính ở cung 8, đem Thiên Bồng gia vào cung 8; giờ Đinh Mão thì Địa Bàn Đinh ở cung 7, đem Thiên Bồng gia vào cung 7. Âm độn cũng theo lệ ấy, chỉ khác chiều.
Ví dụ đi hết từ ngày giờ tới Trực Phù, Trực Sử
Lấy một trường hợp cụ thể để thấy toàn bộ đường đi. Giả sử cần lập bàn cho ngày Kỷ Mão, giờ Giáp Tý, thuộc tiết Tiểu tuyết năm 1997. Trước hết xác định tiết khí: Tiểu tuyết nằm trong khoảng từ Hạ chí đến trước Đông chí, nên dùng Âm độn. Tiếp theo xác định nguyên: ngày Kỷ Mão có địa chi Mão, thuộc nhóm Tý Ngọ Mão Dậu, tức thượng nguyên. Theo bảng cục số của tiết Tiểu tuyết, thượng nguyên dùng cục 5, nên đây là Âm độn ngũ cục.
Sang bước tìm tuần thủ: giờ Giáp Tý thuộc tuần Giáp Tý, tuần thủ là Giáp Tý. Đối chiếu với bảng Trực Phù, Trực Sử của Âm độn ngũ cục, tuần Giáp Tý cho ra một cặp sao và cửa cụ thể. Sau đó an Thiên Bàn theo phép Trực Phù gia thời can: can giờ là Giáp, tra Địa Bàn của Âm độn ngũ cục xem Giáp nằm ở cung nào, rồi đặt sao Trực Phù lên cung ấy. Từ đó triển khai cửu tinh, bát môn, bát thần theo chiều nghịch của Âm độn. Kết quả cuối cùng là một bàn Kỳ Môn hoàn chỉnh cho giờ Giáp Tý ngày Kỷ Mão.
Trường hợp này cũng cho thấy vai trò của nhuận cục. Theo thảo luận trên diễn đàn Lý số Việt Nam, năm 1997 phù đầu cách xa tiết khí nên phải đặt nhuận ở tiết Mang chủng, khiến ngày Kỷ Mão thuộc Tiểu tuyết được tính là thượng nguyên, Âm độn ngũ cục. Nếu không đặt nhuận thì ngày ấy sẽ rơi vào nguyên khác và ra cục số khác. Đây chính là chỗ mà thao tác nhuận cục ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả cuối cùng.
Chỗ các phái không thống nhất
Có ít nhất ba điểm mà các sách và các phái Kỳ Môn còn nói khác nhau. Thứ nhất là cách đặt nhuận: phái theo lối cố định đặt nhuận ở Mang chủng và Đại tuyết, phái theo lối chiết bổ linh hoạt dựa trên độ lệch thực tế. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1, đứng về phía chiết bổ và phê phán lối cố định, nhưng trong thực hành vẫn có người dùng lối cố định vì đơn giản hơn.
Thứ hai là con số tổng cục. Bản Kỳ Môn Độn Giáp bí kíp toàn thư lưu hành ở Việt Nam có câu "một ngàn tám chục số sơ khai", tức 1.080 cục. Trong khi đó, một số ý kiến trên diễn đàn cho rằng con số đúng phải là 2.880 để chia hết cho 64 quẻ Dịch, 60 hoa giáp và 9 cung Lạc Thư. Đây là tranh luận chưa ngã ngũ, và bài này ghi nhận cả hai con số thay vì khẳng định một bên.
Thứ ba là cách hiểu Trực Sử. Sách Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy) định nghĩa Trực Sử là "Sử của cái đang trực", tức là dạng thức sử dụng của sao khí trong mỗi chi giờ, khác với cách hiểu phổ thông rằng Trực Sử chỉ đơn thuần là cửa đang trực. Sự khác biệt này ảnh hưởng tới cách luận giải, nhưng không ảnh hưởng tới bước tra cục số và an bàn.
Ứng dụng và giới hạn
Toàn bộ chuỗi thao tác trên, từ xác định tiết khí, xác định nguyên, tra cục số, tìm tuần thủ, ra Trực Phù Trực Sử, cho tới an bàn, là một quy trình có tính kỹ thuật cao. Người mới học thường sai ở bước nhuận cục vì không để ý độ lệch giữa phù đầu và tiết khí. Người có kinh nghiệm thường lập sẵn bảng 24 tiết khí nhân ba nguyên để tra nhanh, tránh nhầm.
Cần lưu ý rằng Kỳ Môn Độn Giáp là một hệ thống tính toán cổ, dựa trên quy ước và kinh nghiệm truyền đời, không phải một mô hình khoa học thực nghiệm. Các sách cổ cũng không thống nhất hoàn toàn về nhuận cục và tổng số cục. Vì vậy, khi dùng Kỳ Môn để tham khảo, nên xem đây là một góc nhìn văn hóa và lịch sử, không nên dùng để đưa ra quyết định quan trọng về tài chính, sức khỏe hay những việc hệ trọng khác.