
TL;DR: Tuần không là hai địa chi không xuất hiện trong mười ngày can chi liên tiếp, ví dụ tuần Giáp Tý thì Tuất và Hợi là không vong. Muốn tìm, ghép can chi của ngày xem quẻ rồi tra vào sáu tuần Giáp. Tăng san bốc dịch chủ trương không kết luận vội theo không vong mà xét thêm động, tĩnh, vượng suy và cho phép gieo lại quẻ để kiểm chứng.
Tuần không trong Lục Hào là gì?
Tuần không là hai địa chi không xuất hiện trong vòng mười ngày can chi liên tiếp của một tuần Giáp. Sách Tăng san bốc dịch mở đầu chương "Tuần không" bằng cách liệt kê sáu câu: tuần Giáp Tý thì Tuất, Hợi không; tuần Giáp Tuất thì Thân, Dậu không; tuần Giáp Thân thì Ngọ, Mùi không; tuần Giáp Ngọ thì Thìn, Tỵ không; tuần Giáp Thìn thì Dần, Mão không; tuần Giáp Dần thì Tý, Sửu không[1]. Sáu câu ấy suy thẳng từ phép ghép mười thiên can với mười hai địa chi.
Cần phân biệt hai chữ dễ lẫn. "Tuần" ở đây là một nhóm mười ngày can chi, không phải tuần lễ bảy ngày. "Không" là trống, là thiếu mặt, chứ không phải một loại thần sát được an riêng vào lá số. Đây là quy ước tra cứu, không phải một hiện tượng tự nhiên quan sát được.
Cách tìm hai chi không vong trong một tuần Giáp
Muốn biết tuần nào, trước hết lấy can chi của ngày gieo quẻ. Ngày đó nằm trong một tuần mười ngày bắt đầu bằng can Giáp, và hai chi còn thiếu trong tuần ấy chính là không vong. Tăng san bốc dịch giải thích ngắn gọn: từ Giáp Tý đến Quý Dậu là một tuần, trong mười ngày ấy không có Tuất và Hợi, cho nên hào gặp Tuất hay Hợi gọi là không vong, còn gọi là tuần không[1].
Bảng dưới đây tra thẳng sáu tuần, để người đọc đối chiếu nhanh với ngày đang xem:
| Tuần Giáp | Mười ngày trong tuần | Hai chi không vong |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Giáp Tý đến Quý Dậu | Tuất, Hợi |
| Giáp Tuất | Giáp Tuất đến Quý Mùi | Thân, Dậu |
| Giáp Thân | Giáp Thân đến Quý Tỵ | Ngọ, Mùi |
| Giáp Ngọ | Giáp Ngọ đến Quý Mão | Thìn, Tỵ |
| Giáp Thìn | Giáp Thìn đến Quý Sửu | Dần, Mão |
| Giáp Dần | Giáp Dần đến Quý Hợi | Tý, Sửu |
Cách nhớ nhanh: hai chi không vong luôn đứng ngay trước chi mở đầu tuần theo vòng mười hai chi. Tuần mở đầu bằng Tý thì hai chi liền trước Tý là Tuất và Hợi; tuần mở đầu bằng Dần thì hai chi liền trước Dần là Tý và Sửu. Cách nhớ này khớp với bảng trên và tiện dùng khi không có sách tra bên cạnh.
Vì sao mười can với mười hai chi lại sinh ra hai chi trống?
Mười thiên can ghép với mười hai địa chi thành vòng sáu mươi ngày can chi, gọi là lục thập hoa giáp. Vì mười và mười hai chỉ gặp nhau trọn vẹn sau sáu mươi tổ hợp, mỗi tuần mười can chỉ ghép hết mười chi, để lại hai chi chưa dùng tới trong tuần ấy; tuần kế tiếp mở đầu bằng chính chi thừa thứ nhất, như sau tuần Giáp Tý là tuần Giáp Tuất.
Sách Tăng san bốc dịch còn ghi lại nhiều cách gọi khác nhau về không vong mà các sách trước đã đặt ra: chân không, giả không, động không, xung không, điền không, vô cố tự không, hữu tán nhi không, mộ không, tuyệt không, hại không, an không, phá không. Chính tác giả nhận xét các sách bàn quá rườm rà, rồi đưa ra cách xử lý riêng của mình[1].
Hào rơi vào tuần không thì luận thế nào?
Tăng san bốc dịch không chấp nhận lối cắt nghĩa máy móc rằng hễ gặp tuần không là mất hết. Sách nêu nguyên tắc: hào vượng thì không kể là không, hào động thì không kể là không, hào được nhật kiến hoặc hào động sinh phò cũng không kể là không; hào động mà hóa không, hào phục mà vượng tướng cũng đều không kể là không. Ngược lại, nguyệt phá thì tính là không, hào tĩnh, không động thì tính là không, hào phục mà bị khắc thì tính là không, và chân không thì tính là không. Chân không được định nghĩa theo mùa: thổ vào mùa xuân, kim vào mùa hạ, mộc vào mùa thu, hỏa vào ba tháng đông[1].
Điểm đáng chú ý nhất trong chương "Tuần không" là tác giả thú nhận lúc mới học bói, hễ gặp tuần không thì không biết luận ra sao: muốn coi là hoàn toàn trống thì lại thấy ứng vào ngày điền thực mà không trống; muốn coi là không trống thì lại có trường hợp trống hẳn. Vì vậy sách đề ra phép đa chiêm: gặp tuần không thì cho gieo thêm quẻ, quẻ sau tốt thì hứa rằng qua khỏi tuần sẽ hết không, quẻ sau xấu thì coi như trống thật[1].
Ví dụ trong Tăng san bốc dịch về hào tài gặp tuần không
Sách kể trường hợp ngày Ất Mão tháng Thìn, xem cầu tài, được quẻ Gia Nhân biến sang Bí. Hào tài Sửu trì Thế gặp tuần không, tuy có hào Tỵ sinh cho nhưng Tỵ lại hóa bị khắc trở lại nên không sinh được. Sách ghi rằng hào tài Sửu vẫn còn khí vì đang tháng Thìn, mà cổ pháp nói có khí thì không kể là không, nên tác giả không dám đoán dứt, bèn cho gieo thêm quẻ. Quẻ sau được Khuê biến sang Tổn, hào tài Tý không vong lại phục dưới hào Mùi, vừa phục vừa không lại bị khắc. Ghép hai quẻ, tác giả kết luận là không có tài, và nghiệm ra đúng là không có thật[1].
Một ví dụ khác: ngày Tân Hợi tháng Tý, xem đi xa cầu tài, được quẻ Đại Súc. Hào Thế Dần mộc được tháng Tý và ngày Hợi đều làm tài sinh cho, lại thêm Thế với Ứng tương sinh, nhìn qua là quẻ toàn mỹ. Nhưng Thế đang gặp tuần không; theo cổ pháp thì "vô cố tự không" là điềm đại hung. Tác giả không kết luận ngay mà cho gieo thêm quẻ, rồi dùng quẻ thứ hai để định đoạt[1].
Trường hợp hôn nhân cũng đáng lưu ý. Ngày Quý Dậu tháng Tý, tự xem hôn nhân, được quẻ Hằng biến sang Đỉnh. Hào tài Tuất động ở cung Ứng sinh cho Thế, lại thêm Thế Ứng tương sinh. Tuy Tuất gặp tuần không, nhưng vì là hào động nên không kể là không; quả nhiên hôm sau, đúng ngày ra khỏi tuần không, việc cầu hôn được nhận lời[1]. Lời đoán của ví dụ này dùng đúng câu "động bất vi không" (動不爲空) đã nêu ở chương "Tuần không".
Vì sao phải gieo thêm quẻ khi gặp tuần không?
Phép đa chiêm trong Tăng san bốc dịch không phải là thủ thuật trang trí, mà là cách xử lý khi bản thân quy tắc tuần không không đủ để phân định. Dã Hạc viết rằng phép đa chiêm tiêu được nhiều mối nghi (多占之法,能消許多疑惑); Lý Ngã Bình bình thêm rằng xem quẻ gặp không thì chưa thể coi ngay là không (凡占遇空,不可卽以爲空也)[1]. Cách làm này đặt tuần không ngang hàng với các tín hiệu khác như nguyệt phá, nhật kiến, động tĩnh, chứ không cho nó quyền phủ quyết một mình.
Cũng cần nhớ rằng Tăng san bốc dịch nhiều lần phản bác lối đoán cứng của các sách trước, chẳng hạn ở phần bàn về hôn nhân, Giác Tử (Lý Văn Huy) chê sách Hoàng kim sách và Dịch mạo lấy Ứng làm vợ rồi cho rằng hễ Ứng vượng tướng thì nhà gái ắt phú quý là lối bàn trái lẽ (種種悖謬)[1]. Tinh thần ấy áp dụng luôn cho tuần không: nó là một biến số trong hệ, không phải bản án.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi bạn tra tuần không cho một quẻ, hãy làm theo thứ tự sau. Một, ghi rõ can chi ngày gieo, vì không có ngày thì không tra được tuần. Hai, tra vào bảng sáu tuần Giáp để lấy hai chi không vong. Ba, xét hào cần luận là tĩnh hay động, có được nhật kiến hay hào động sinh phò không, có bị nguyệt phá không, rồi mới kết luận. Bốn, nếu hào ấy là điểm quyết định của câu hỏi mà tín hiệu vẫn chồng chéo, hãy gieo thêm một quẻ và đối chiếu hai quẻ, đúng như tinh thần đa chiêm của Tăng san bốc dịch.
Cần nói rõ đây là quy ước của một trường phái bói dịch, không phải kết luận về vận mệnh con người. Tăng san bốc dịch là sách Lục Hào đời Thanh: văn bản gốc chỉ chứng minh sách ấy nói gì, không chứng minh điều nó nói là đúng. Người đọc muốn dùng nó như một cách tự sắp xếp suy nghĩ thì nên giữ tinh thần ấy, đừng biến hai chữ tuần không thành lời khẳng định về tài chính, sức khỏe hay hôn nhân của bất kỳ ai.
