
TL;DR: Sao Tử Phù là một trong 12 phụ tinh của vòng Thái Tuế, an theo chiều thuận bắt đầu từ cung mang tên chi năm sinh, lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù. Sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử đều ghi Tử Phù ở vị trí thứ sáu trong vòng. Theo các sách Tử Vi Việt Nam này, Tử Phù được luận chung với Trực Phù: Tử Vi đẩu số tân biên ghi thuộc Hỏa, tả là buồn thảm, ngăn trở; Tử Vi áo bí biện chứng học ghi chủ về tật bệnh; Thiên Lương xếp Tử Phù vào thế tam hợp Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức. Đó là lời của từng sách, không phải kết luận về vận mệnh.
Sao Tử Phù trong Tử Vi là gì?
Sao Tử Phù là một phụ tinh nằm trong vòng Thái Tuế, vòng sao gồm 12 ngôi được an theo chiều thuận bắt đầu từ cung mang tên chi của năm sinh. Tử Phù đứng ở vị trí thứ sáu trong vòng, ngay sau Quan Phù và trước Tuế Phá[1][2].
Cần phân biệt Tử Phù với sao Tử Vi, dù tên gọi có phần gần nhau. Tử Vi là đế tinh, một trong 14 chính tinh, giữ vai trò chủ đạo trong lá số. Tử Phù chỉ là phụ tinh, không tọa thủ một mình để định cát hung mà thường được đọc trong tương quan với chính tinh cùng cung và các sao hội chiếu từ tam phương tứ chính.
Trong Tử Vi đẩu số tân biên, Vân Đằng Thái Thứ Lang trình bày vòng này dưới tên Thái Tuế tinh hệ, liền trước Lộc Tồn tinh hệ và Tràng Sinh tinh hệ. Ông ghi rõ trình tự: sau khi an Thái Tuế tại cung có tên chi năm sinh, dù nam hay nữ đều an thuận lần lượt Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù[1].
Việt Viêm Tử trong Tử Vi áo bí biện chứng học cũng liệt kê vòng Thái Tuế gồm 12 sao theo đúng thứ tự ấy, và nêu ví dụ: nếu Thái Tuế ở cung Dần thì Thiếu Dương ở Mão, Tang Môn ở Thìn, Thiếu Âm ở Tỵ, Quan Phù ở Ngọ, Tử Phù ở Mùi, Tuế Phá ở Thân, Long Đức ở Dậu, Bạch Hổ ở Tuất, Phúc Đức ở Hợi, Điếu Khách ở Tý, Trực Phù ở Sửu[2].
Cách an sao Tử Phù theo vòng Thái Tuế
Cách an Tử Phù không đứng riêng mà phụ thuộc hoàn toàn vào vị trí Thái Tuế. Quy trình gồm hai bước.
Bước 1: An Thái Tuế tại cung năm sinh
Lấy chi của năm sinh đặt Thái Tuế vào cung mang đúng tên chi ấy. Người sinh năm Tý an Thái Tuế tại cung Tý; người sinh năm Dần an Thái Tuế tại cung Dần; người sinh năm Mão an Thái Tuế tại cung Mão[1][2]. Đây là bước duy nhất phụ thuộc vào năm sinh, các sao còn lại trong vòng dịch chuyển theo.
Bước 2: Đếm thuận đến vị trí thứ sáu
Từ cung Thái Tuế, đếm theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ trên địa bàn 12 cung) lần lượt mỗi cung một sao theo thứ tự cố định. Tử Phù rơi vào cung thứ sáu tính từ Thái Tuế, tức là cách Thái Tuế năm cung theo chiều thuận[1][2].
Bảng dưới minh họa vị trí Tử Phù với một số năm sinh, tính theo chiều thuận trên 12 cung Địa Chi:
| Chi năm sinh | Cung an Thái Tuế | Cung an Tử Phù | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tý | Tý | Tỵ | Đếm thuận 5 cung từ Tý |
| Sửu | Sửu | Ngọ | Đếm thuận 5 cung từ Sửu |
| Dần | Dần | Mùi | Ví dụ Việt Viêm Tử nêu[2] |
| Mão | Mão | Thân | Đếm thuận 5 cung từ Mão |
| Thìn | Thìn | Dậu | Đếm thuận 5 cung từ Thìn |
| Tỵ | Tỵ | Tuất | Đếm thuận 5 cung từ Tỵ |
| Ngọ | Ngọ | Hợi | Đếm thuận 5 cung từ Ngọ |
| Mùi | Mùi | Tý | Đếm thuận 5 cung từ Mùi |
| Thân | Thân | Sửu | Đếm thuận 5 cung từ Thân |
| Dậu | Dậu | Dần | Đếm thuận 5 cung từ Dậu |
| Tuất | Tuất | Mão | Đếm thuận 5 cung từ Tuất |
| Hợi | Hợi | Thìn | Đếm thuận 5 cung từ Hợi |
Quy tắc này áp dụng cho cả nam và nữ, không phân biệt âm dương nam nữ như vòng Lộc Tồn. Sự khác biệt ấy đáng lưu ý vì vòng Lộc Tồn an thuận cho dương nam âm nữ và an nghịch cho âm nam dương nữ[1], còn vòng Thái Tuế luôn an thuận.
Vòng Thái Tuế gồm những sao nào và Tử Phù đứng ở đâu?
Vòng Thái Tuế gồm đúng 12 sao, mỗi cung một sao, theo thứ tự cố định bắt đầu từ Thái Tuế[1][2]:
- Thái Tuế
- Thiếu Dương
- Tang Môn
- Thiếu Âm
- Quan Phù
- Tử Phù
- Tuế Phá
- Long Đức
- Bạch Hổ
- Phúc Đức
- Điếu Khách
- Trực Phù
Tử Phù đứng thứ sáu, nằm giữa Quan Phù và Tuế Phá, tức ở cung liền trước cung xung chiếu Thái Tuế. Theo cách chia của Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư, mười hai sao của vòng họp thành bốn thế tam hợp, và Tử Phù thuộc thế Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức[3].
Tử Vi áo bí biện chứng học an thêm hai sao đồng cung ngay khi an vòng: Thiên Không cùng cung với Thiếu Dương, Quán Sách cùng cung với Trực Phù[2]. Hai sao ấy không thuộc mười hai sao của vòng, nên thứ tự của vòng và vị trí thứ sáu của Tử Phù không đổi ở cả Tử Vi đẩu số tân biên lẫn Tử Vi áo bí biện chứng học[1][2].
Ý nghĩa sao Tử Phù theo các sách Tử Vi Việt Nam
Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học đều luận Tử Phù chung một mục với Trực Phù, và đều ghi rất ngắn. Tử Vi đẩu số tân biên ghi hai sao thuộc Hỏa, tả là "Buồn thảm. Chủ tang thương. Gây rắc rối, ngăn trở mọi việc"[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học cũng ghi hai sao thuộc Hỏa nhưng cho là chủ về tật bệnh[2]. Hai sách nói hai ý khác nhau; đây là tính chất quy ước của sao theo từng sách, không phải lời đoán cho một lá số cụ thể hay một nhận định y khoa.
Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư không luận Tử Phù như một sao rời mà đặt nó trong thế tam hợp Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức, một trong bốn thế của vòng Thái Tuế. Theo ông, người có Mệnh ở thế này được mô tả là "được tư chất thiên phú thông minh nhạy cảm hơn đời", và sách coi đây là thế nghịch âm dương với tuổi, khác với thế Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ[3].
Nguyễn Phát Lộc trong Tử Vi tổng hợp không lập mục riêng cho Tử Phù. Sách kể Tử Phù, Trực Phù, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Quan Phù trong số các sao mà theo tác giả là do Tử Vi Việt Nam thêm vào so với sách Trung Hoa, và xếp Tử Phù, Trực Phù vào nhóm ám tinh, tức những sao sách cho là gây trở ngại, trục trặc[4].
Tử Phù khác gì Quan Phù, Tuế Phá và các sao lân cận?
Ba sao Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá đứng liền nhau trong vòng Thái Tuế. Sự khác biệt giữa chúng nằm ở vị trí tương đối so với Thái Tuế.
- Quan Phù đứng thứ năm, ngay trước Tử Phù, gần Thái Tuế hơn một cung.
- Tử Phù đứng thứ sáu, ở giữa cụm.
- Tuế Phá đứng thứ bảy, đối xung với Thái Tuế qua tâm địa bàn.
Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Lộc Tồn. Hai sao này trùng âm gần giống nhau khi đọc nhưng khác hẳn về vị trí và ý nghĩa. Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế, an theo năm sinh; Quan Phủ thuộc vòng Lộc Tồn, an theo can năm sinh. Sách Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc luôn kể Quan Phù và Quan Phủ như hai sao riêng, thường đi cùng Thái Tuế khi bàn chuyện kiện tụng[4].
Vì sao Tử Phù không nên luận riêng?
Tử Phù là phụ tinh. Theo Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc, chính tinh quyết định bản chất sự việc, còn phụ tinh chỉ gia giảm, bổ túc vào bản chất đó[4].
Cách đọc hợp lý là xem Tử Phù trong ba lớp:
- Lớp thứ nhất: chính tinh tọa thủ cung mà Tử Phù đóng. Chính tinh quyết định phần lớn ý nghĩa cung ấy.
- Lớp thứ hai: các sao hội chiếu từ tam phương tứ chính, trong đó hai cung tam hợp luôn có Thiếu Dương và Phúc Đức.
- Lớp thứ ba: tương quan với các vòng sao khác như vòng Lộc Tồn và vòng Tràng Sinh.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi tra lá số có Tử Phù, nên ghi lại vị trí của nó rồi đối chiếu với chính tinh cùng cung trước, sau đó mới xét đến các sao hội chiếu. Đừng vội kết luận cát hay hung chỉ từ một phụ tinh đứng lẻ.
Những điểm cần lưu ý khi tra cứu Tử Phù
Có vài chỗ dễ nhầm khi tra cứu sao Tử Phù trong các nguồn khác nhau.
Thứ nhất, Tử Vi áo bí biện chứng học an Thiên Không cùng cung Thiếu Dương và Quán Sách cùng cung Trực Phù ngay khi an vòng, nên trên lá số có thể thấy 14 tên sao ở quanh vòng. Vòng vẫn chỉ gồm 12 sao theo cả Tử Vi đẩu số tân biên lẫn Tử Vi áo bí biện chứng học[1][2].
Thứ hai, Tử Phù khác Trực Phù dù hai sách luận chung một mục: Tử Phù ở vị trí thứ sáu, Trực Phù ở vị trí thứ mười hai, nên hai sao luôn ở hai cung xung chiếu nhau.
Thứ ba, Tử Phù không nên bị nhầm với sao Tử Vi, với cung Tử Tức, hay với sao Tử của vòng Tràng Sinh, vòng an theo Cục. Bốn khái niệm này hoàn toàn khác nhau về vai trò trong lá số.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn dùng phần mềm an sao, hãy kiểm tra vị trí Tử Phù bằng cách đếm tay từ Thái Tuế theo chiều thuận năm cung. Kết quả đếm tay và kết quả phần mềm phải trùng nhau. Nếu lệch, nhiều khả năng phần mềm đang theo một quy ước vòng Thái Tuế khác với quy ước của sách bạn đang đọc.
