
TL;DR: Theo các sách Tử Vi Việt Nam, Địa Không và Địa Kiếp là cặp sao trong bộ Lục sát, an theo giờ sinh: khởi từ cung Hợi kể là giờ Tý, Địa Kiếp đếm thuận, Địa Không đếm nghịch tới giờ sinh. Sinh giờ Tý thì hai sao đồng cung tại Hợi, sinh giờ Ngọ thì đồng cung tại Tỵ. Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương ghi hai sao đắc địa ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử chỉ coi Tỵ, Hợi là miếu địa, Dần, Thân là bình địa. Địa Không khác Thiên Không, sao mà các sách này an theo Thái Tuế. Đây là cách luận của môn Tử Vi, không phải kết luận về đời người.
Địa Không và Địa Kiếp là gì trong lá số Tử Vi?
Địa Không và Địa Kiếp là hai sao thuộc bộ Lục sát, đứng cùng Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Bài này trình bày cách an và cách hiểu theo Tử Vi Việt Nam, dựa trên Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương và Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc. Tử Vi đẩu số tân biên xếp hai sao vào bộ Lục sát, ngay sau Kình Dương và Đà La[1]; Tử Vi áo bí biện chứng học gọi tắt là Kiếp Không[2]. Khác với Kình Dương, Đà La (an theo vị trí Lộc Tồn), hai sao này an thuần túy theo giờ sinh.
Cách an gọn trong một câu: khởi từ cung Hợi kể là giờ Tý, đếm thuận đến giờ sinh thì an Địa Kiếp, đếm nghịch đến giờ sinh thì an Địa Không. Việt Viêm Tử ghi thành hai câu thơ: "Kiếp không khởi tự Hợi cung, Không nghịch kiếp thuận, long hung tuỳ thời"[2].
Cách an theo giờ sinh
Theo Tử Vi đẩu số tân biên[1]:
- Địa Kiếp: lấy cung Hợi làm mốc khởi đầu, coi đó là giờ Tý, rồi đếm xuôi theo chiều thuận cho tới giờ sinh; cung dừng lại chính là chỗ an Địa Kiếp.
- Địa Không: cũng lấy cung Hợi làm mốc khởi đầu, coi đó là giờ Tý, nhưng đếm ngược theo chiều nghịch cho tới giờ sinh; cung dừng lại chính là chỗ an Địa Không.
Vì hai sao đi ngược chiều nhau từ cùng một điểm xuất phát, vị trí của chúng luôn đối xứng qua trục Hợi Tỵ. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai giờ sinh, đối chiếu theo cách an mà Tử Vi áo bí biện chứng học[2] đã hệ thống hóa:
| Giờ sinh | Địa Kiếp tại | Địa Không tại | Thế cục |
|---|---|---|---|
| Tý | Hợi | Hợi | Đồng cung tại Hợi |
| Sửu | Tý | Tuất | Giáp biên tại Hợi |
| Dần | Sửu | Dậu | Tam hợp (cách nhau bốn cung) |
| Mão | Dần | Thân | Xung chiếu nhau |
| Thìn | Mão | Mùi | Tam hợp (cách nhau bốn cung) |
| Tỵ | Thìn | Ngọ | Giáp biên tại Tỵ |
| Ngọ | Tỵ | Tỵ | Đồng cung tại Tỵ |
| Mùi | Ngọ | Thìn | Giáp biên tại Tỵ |
| Thân | Mùi | Mão | Tam hợp (cách nhau bốn cung) |
| Dậu | Thân | Dần | Xung chiếu nhau |
| Tuất | Dậu | Sửu | Tam hợp (cách nhau bốn cung) |
| Hợi | Tuất | Tý | Giáp biên tại Hợi |
Việt Viêm Tử trong Tử Vi áo bí biện chứng học[2] rút ra ba thế cục cần nhớ: đồng cung khi sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ, giáp biên khi sinh giờ Sửu, giờ Hợi, giờ Tỵ, giờ Mùi, và xung chiếu nhau khi sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu. Ông cho rằng nắm được ba thế cục này thì không cần tính lại vị trí Kiếp Không mỗi khi lấy số.
Vì sao sinh giờ Tý và giờ Ngọ lại đồng cung ở Tỵ Hợi?
Đây là hệ quả trực tiếp của cách an nghịch thuận chứ không phải một quy ước riêng. Sinh giờ Tý thì cả hai sao đều dừng ngay tại điểm xuất phát Hợi. Sinh giờ Ngọ là giờ thứ bảy trong vòng mười hai giờ: đếm thuận từ Hợi bảy bước tới Tỵ, đếm nghịch từ Hợi bảy bước cũng tới Tỵ. Vậy nên chỉ hai giờ Tý và Ngọ mới cho đồng cung, và đồng cung chỉ xảy ra tại Tỵ hoặc Hợi.
Đồng cung tại Tỵ Hợi được luận thế nào?
Tử Vi đẩu số tân biên chép câu phú "Kiếp, Không, Tỵ, Hợi, đồng vị, tảo đạt công danh" và giảng: cung Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Kiếp, Không tọa thủ đồng cung thì công danh sớm đạt, "nhưng chẳng được lâu bền". Một câu phú khác của sách nói Mệnh ở Tỵ, Hợi có Kiếp, Không, Thiên Tướng, Thiên Mã đồng cung, gặp Hóa Khoa, là người tài giỏi lập nên sự nghiệp lớn trong thời loạn[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học viết Kiếp Không nhập miếu ở Tỵ, Hợi thì hoạnh phát danh tài, "phát dã như lôi", nhưng với phần lớn các tuổi thì không bền; sách cũng nói được cách nhập miếu trọn vẹn là rất khó, vì phải tránh hẳn Tuần, Triệt[2].
Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý ghi Địa Không, Địa Kiếp thuộc Hỏa, đắc địa ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân, và viết: Mệnh vô chính diệu hành Hỏa gặp Không Kiếp ở bốn cung này "là vô chính diệu đắc Không". Ông đặt thêm điều kiện: những sao này "không cho phép Tuần Triệt hay Thiên Tài đụng đến". Ở chỗ khác ông dè dặt hơn: Không Kiếp ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi "chỉ nhất thời đưa nhau lên", về sau vẫn tàn như ở mọi vị trí khác[3].
Đắc địa và hãm địa của Không Kiếp khác nhau ra sao?
Tử Vi đẩu số tân biên ghi Địa Kiếp thuộc Dương Hỏa, Địa Không thuộc Âm Hỏa, đắc địa ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Theo sách, Kiếp, Không đắc địa ứng với người kín đáo, hay suy xét, có mưu trí và can đảm, nhưng sự nghiệp thăng trầm, giàu sang như mây nổi; hãm địa thì sách dùng những chữ nặng như gian tà, xảo quyệt, ích kỷ, biển lận, ít khi được toại ý[1].
Tử Vi áo bí biện chứng học chia khác: hai sao đều thuộc Hỏa, "Miếu địa ở Tỵ Hợi", "Bình địa ở Dần Thân"[2]. Thiên Lương thì xét thêm hành của Mệnh: theo ông, sát tinh chỉ có hai hành Hỏa và Kim, nên chỉ Mệnh vô chính diệu thuộc Hỏa hoặc Kim mới dựa được vào sát tinh đắc địa hợp hành với mình, khi ấy "dám tranh ngang ngửa với Sát Phá Tham"; còn Mệnh Kim gặp Không Kiếp thì "dầu đắc địa đi nữa" ông vẫn coi là bất lợi[3].
Khi cùng hội chiếu một cung
Ngoài hai thế đồng cung và giáp biên, trường hợp đáng chú ý nhất là khi Địa Không và Địa Kiếp cùng chiếu về một cung. Sinh giờ Mão thì Kiếp ở Dần, Không ở Thân; sinh giờ Dậu thì Kiếp ở Thân, Không ở Dần[2]. Hai cung Dần và Thân xung chiếu nhau, nên cung Mệnh nằm ở Dần hoặc Thân sẽ có một sao tọa thủ và sao kia xung chiếu. Sách Tử Vi đẩu số tân biên[1] mô tả tình thế này bằng câu phú Dần, Thân, Kiếp, Không nhi ngộ Qúy tinh thăng trầm vô độ: cho dù cát tinh tụ hội nhiều đến đâu, số mệnh vẫn chìm nổi liên miên, bổng lộc và tiền của lúc tụ lúc tán thất thường.
Cùng nhóm cách cục, sách còn chép Kiếp, Cơ ngộ Hỏa, tất ngộ hỏa tai, tức Kiếp và Thiên Cơ đồng cung mà gặp Hỏa Tinh thì hay gặp hỏa tai, và Mệnh trung ngộ Kiếp, Tham do như lãng lý hành thuyền, tức Kiếp đi với Tham Lang thì đời lao khổ, phiêu bạt, hay mắc nạn sông nước[1].
Có phải cứ thấy Không Kiếp là kết luận hung?
Không hẳn, theo chính các sách. Tử Vi đẩu số tân biên ghi Kiếp, Không hội với Tử Vi, Thiên Phủ thì thành mờ ám, nhưng đồng cung với Thiên Tướng, Thiên Mã tại Tỵ, Hợi, gặp Hóa Khoa, lại là cách lập nghiệp thời loạn. Về nữ mệnh, sách ghi Kiếp, Không đắc địa thủ Mệnh là người cương cường, có mưu lược và can đảm, làm việc gì cũng chóng thành nhưng chẳng được lâu bền; phần hãm địa sách dùng lời rất nặng, là cách nói của sách xưa chứ không phải nhận định về một người cụ thể[1].
Tử Vi nghiệm lý toàn thư[3] còn dẫn trường hợp Tử Phủ tại Dần Thân gặp Không Kiếp mà gán cho mẫu người ngụy quân tử, và dùng cách ấy để minh họa cho nhân vật Hồ Tôn Hiến trong Truyện Kiều. Đây là cách đọc văn học của một tác giả Tử Vi, không phải một kết luận lịch sử về nhân vật.
Địa Không khác Thiên Không và Tuần Không thế nào?
Trong bốn sách, chữ "Không" chỉ nhiều sao khác nhau. Địa Không là sao an theo giờ sinh, đi cặp với Địa Kiếp; Thiên Không là sao khác: Tử Vi đẩu số tân biên an Thiên Không ở cung đằng trước cung an Thái Tuế, tức theo năm sinh[1], và Tử Vi áo bí biện chứng học cũng an Thiên Không cùng Thiếu Dương ở cung trước Thái Tuế[2]. Thiên Lương có nhắc một "dư luận" cho rằng Thiên Không vốn đi đôi với Địa Kiếp, nhưng ông nghiêng về thuyết Thiên Không đứng riêng ở vị trí liền Thái Tuế[3]. Nguyễn Phát Lộc kể Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên Không là bốn sao "Không" riêng biệt[4]. Vì vậy câu "Đào ngộ Không" trong Tử Vi áo bí biện chứng học nói về Thiên Không, và chữ "Đà Không" trong câu phú về cung Phúc Đức của sách ấy được chính sách giảng là Đà La với Tuần Không; cả hai đều không phải Địa Không.
Những điểm các sách không thống nhất
Về cách an, Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học ghi giống nhau: khởi từ Hợi, Kiếp thuận, Không nghịch theo giờ sinh. Chỗ khác nhau nằm ở việc xếp đắc hãm. Tử Vi đẩu số tân biên[1] và Thiên Lương[3] cùng ghi đắc địa ở bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Tử Vi áo bí biện chứng học[2] chỉ coi Tỵ, Hợi là miếu địa, còn Dần, Thân là bình địa. Thiên Lương đặt thêm điều kiện về hành của Mệnh; ông và Việt Viêm Tử đều đòi hai sao không bị Tuần, Triệt án ngữ. Về ngũ hành, Tử Vi đẩu số tân biên phân Địa Kiếp Dương Hỏa, Địa Không Âm Hỏa, hai sách kia chỉ ghi chung là Hỏa.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
- Xác định giờ sinh trước: hai sao an theo giờ, lệch một giờ là vị trí đã đổi; có thể tra nhanh bằng bảng ở trên.
- Gặp chữ "Không" trong sách thì xem đó là Địa Không, Thiên Không hay Tuần Không trước khi đối chiếu.
- Ghi rõ đang đọc đắc hãm theo sách nào, vì Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học xếp hai cung Dần, Thân khác nhau.
- Những câu nặng lời trong sách xưa là cách nói của một hệ biểu tượng, không phải dự báo về một người cụ thể.
