
TL;DR: Không sách nào định một số nén hương đúng cho mọi bàn thờ. Nếp dân gian phổ biến là thắp số lẻ, thường 1 nén ngày thường và 3 nén ngày rằm, mùng một, ngày giỗ, vì số lẻ được coi là số dương; gốc của cách chia ấy là câu "thiên nhất địa nhị" trong Hệ từ của Kinh Dịch, nơi số lẻ là số Trời. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính tả việc đốt hương ở nhiều dịp nhưng chỉ ghi "một nén", "vài nén", "năm ba nén", không đặt quy tắc số lẻ.
Thắp mấy nén hương là đúng?
Không có một con số đúng cho mọi bàn thờ. Nếp phổ biến của người Việt là thắp số lẻ: thường 1 nén ngày thường, 3 nén vào ngày rằm, mùng một, ngày giỗ; lễ lớn ở đình, đền có nơi thắp 5 hay 7 nén. Số chẵn, nhất là 2 nén, thường bị kiêng.
Sách xưa không đặt quy tắc ấy. Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính tả việc đốt hương ở nhiều dịp, từ cúng gia tiên tới tang lễ, nhưng chỉ ghi "một nén", "vài nén" hay "năm ba nén", không nói phải là số lẻ[2][3].
Sách Việt Nam phong tục ghi chuyện đốt hương thế nào?
Phan Kế Bính kể gốc tục đốt hương theo truyện cũ của Trung Hoa: thời Hán Vũ Đế, tế tôn miếu chỉ đốt cỏ thơm trộn mỡ, tới khi nước Hồn Gia ở Tây Vực dâng tượng thần bằng vàng, người nước ấy cúng thần chỉ đốt hương lễ bái, rồi từ đó mới có tục đốt hương; ông giải nghĩa đốt hương là "cầu cho quỉ thần giáng cách"[1]. Về nước ta, ông viết "tục đốt hương chưa biết tự đâu", chỉ dẫn Ngô truyện chép chuyện Trương Tân làm thứ sử Giao Châu thường đốt hương đọc đạo thư[1].
Các dịp có hương mà sách và nghiên cứu ghi lại, cùng số nén được ghi:
| Dịp | Điều được ghi | Nguồn |
|---|---|---|
| Hạ huyệt trong tang lễ ở nhà quê | Lấp đất xong, mỗi người cầm một nén hương tụng kinh, đi quanh mộ | Việt Nam phong tục[2] |
| Quyên giáo ở cửa chùa | Đốt năm ba nén hương cắm lên bình bên nong quyên tiền | Việt Nam phong tục[3] |
| Lễ vía Bà của người Hoa ở Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế cũ) | Mỗi bát hương thắp 3 thẻ hương dài kiểu Trung Quốc màu đỏ | Dương Thị Hải Vân, 2018[5] |
| Am thờ nữ thần ở Huế | Thắp nén hương ngày rằm, ngày sóc và ngày lễ của làng | Dương Thị Hải Vân, 2023[6] |
Trong bốn dòng ấy, chỉ dòng của người Hoa ở Huế có một con số cố định; các dòng còn lại cho thấy số nén đi theo dịp và theo người, không theo một luật.
Vì sao thường thắp số lẻ?
Gốc của việc coi số lẻ là số dương nằm ở Hệ từ thượng của Kinh Dịch: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập", tức 1, 3, 5, 7, 9 là số Trời, 2, 4, 6, 8, 10 là số Đất[4]. Đoạn này nói về số trong phép gieo cỏ thi lập quẻ, không nói về hương.
Dân gian nối cách chia ấy với lễ cúng: Trời thuộc dương, việc của người sống thuộc dương, nên hương dâng lên dùng số lẻ; số chẵn thuộc âm nên bị tránh. Người ta còn gán nghĩa riêng cho từng số: 3 nén thường được giải là Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) ở bàn thờ Phật, hay Thiên, Địa, Nhân ở bàn thờ gia tiên; 5 nén là Ngũ Hành. Đây là cách giải của từng nơi, không có sách nào làm chuẩn.
Thắp 1 nén hương có được không?
Được, và đây là cách nhiều gia đình thắp hằng ngày; một nén được hiểu là lòng thành, số nén không phải thước đo lòng thành.
Ở am thờ nữ thần mà Dương Thị Hải Vân khảo sát tại Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế cũ), việc thờ được tả là đơn giản, chỉ thắp nén hương vào ngày rằm, ngày sóc và ngày lễ của làng[6]. Sách Việt Nam phong tục tả lễ cáo gia tiên mỗi tuần tiết, ngày kỵ cũng chỉ ghi "đốt đèn đốt hương, tùy việc mà khấn vái gia tiên", không định số nén[8].
Vì sao kiêng thắp 2 nén hương?
Hai là số chẵn, theo cách chia ở trên thuộc âm, nên dân gian cho rằng thắp 2 nén ở bàn thờ là không hợp lễ. Đây là một điều kiêng truyền miệng; sách phong tục không ghi lệnh cấm, và có nhà vẫn thắp số chẵn theo nếp riêng của dòng họ.
Khói hương có ảnh hưởng tới sức khoẻ không?
Có. Một tổng quan y văn năm 2008 của Lin, Krishnaswamy và Chi tổng hợp các nghiên cứu cho thấy khói hương sinh bụi hạt, khí và hợp chất hữu cơ, và gắn với các bệnh đường thở. Vì vậy trong phòng thờ kín, thắp ít nén và mở cửa thông gió là cách giảm khói mà không bỏ lễ.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nhà chưa có nếp riêng có thể giữ cách phổ biến, 1 nén ngày thường và 3 nén ngày rằm, mùng một, ngày giỗ; khi tới đình, đền, chùa thì theo cách thắp của nơi ấy, vì mỗi nơi có lệ riêng.
