
TL;DR: Tả Phù và Hữu Bật là cặp phụ tinh chỉ sự trợ giúp, an theo tháng sinh âm lịch: Tả Phù khởi từ cung Thìn đếm thuận, Hữu Bật khởi từ cung Tuất đếm nghịch. Hai sao đồng cung tại Mùi khi sinh tháng Tư và tại Sửu khi sinh tháng Mười; thế Tả Hữu đồng cung được các sách Tử Vi Việt Nam luận là mang phúc trợ lực, nhưng mức độ tốt xấu còn tùy thuộc vào các sao hội hợp và vị trí cung Mệnh.
Tả Phù và Hữu Bật là hai phụ tinh của lá số Tử Vi, an theo tháng sinh âm lịch và được các sách Tử Vi Việt Nam xếp vào nhóm trợ tinh, tức sao phò tá. Bài này trình bày cách an hai sao theo tháng sinh, hai vị trí đồng cung ở Sửu và Mùi, cùng lời luận của Tử Vi đẩu số tân biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang), Tử Vi áo bí biện chứng học (Việt Viêm Tử) và Tử Vi nghiệm lý toàn thư (Thiên Lương). Về tên gọi, Tử Vi đẩu số tân biên và phần văn xuôi của Tử Vi áo bí biện chứng học viết Tả Phụ, đúng âm Hán Việt của 左輔; Thiên Lương viết Tả Phù, cũng là tên dùng trên lá số của Nhật Nguyệt.
Cách an Tả Phù và Hữu Bật theo tháng sinh
Theo sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, cách an hai sao này dựa hoàn toàn vào tháng sinh âm lịch. Tả Phù được an bằng cách khởi từ cung Thìn kể là tháng Giêng, rồi đếm thuận theo chiều kim đồng hồ đến tháng sinh, ngừng lại ở cung nào thì an Tả Phù tại cung đó. Hữu Bật thì khởi từ cung Tuất kể là tháng Giêng, đếm nghịch theo chiều ngược lại đến tháng sinh, ngừng ở cung nào thì an Hữu Bật tại cung ấy. Vì một sao đi thuận, một sao đi nghịch từ hai cung đối nhau, hai sao luôn đối xứng với nhau qua trục Sửu Mùi: chúng gặp nhau ở Mùi và ở Sửu, còn ở các tháng khác thì đứng cách đều hai cung ấy.
Sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử cũng ghi nhận cách an tương tự, với câu thơ: "Tả-phù Thìn thuận tháng sinh, Hữu-bật nghịch Tuất đinh ninh chăng là". Sách này còn nhấn mạnh rằng Thìn và Tuất là hai cung khởi đầu cố định, do đó người nghiên cứu chỉ cần nhớ vị trí theo tháng sinh mà không cần tính toán lại từ đầu. Cụ thể, sinh tháng Giêng thì Tả tại Thìn, Hữu tại Tuất; sinh tháng Bảy thì Tả tại Tuất, Hữu tại Thìn; sinh tháng Tư thì Tả Hữu đồng cung tại Mùi; sinh tháng Mười thì Tả Hữu đồng cung tại Sửu.
Tử Vi nghiệm lý toàn thư của Thiên Lương cũng nói cùng một phép: sách viết hai cung Thìn, Tuất là hai vị trí xuất phát của ba bộ sao Long Phượng (theo năm), Tả Hữu (theo tháng), Xương Khúc (theo giờ), đi "theo luật dương thuận âm nghịch". Ba sách vì thế thống nhất: Tả Phù, Hữu Bật an theo tháng sinh, còn Văn Xương, Văn Khúc an theo giờ sinh.
Bảng vị trí Tả Phù và Hữu Bật theo tháng sinh
| Tháng sinh âm lịch | Tả Phù | Hữu Bật | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tháng Giêng | Thìn | Tuất | Hai sao ở hai cung đối nhau |
| Tháng Hai | Tỵ | Dậu | Tả tiến, Hữu lùi |
| Tháng Ba | Ngọ | Thân | Giáp cung Mùi |
| Tháng Tư | Mùi | Mùi | Đồng cung tại Mùi |
| Tháng Năm | Thân | Ngọ | Giáp cung Mùi |
| Tháng Sáu | Dậu | Tỵ | Tả tiến, Hữu lùi |
| Tháng Bảy | Tuất | Thìn | Hai sao ở hai cung đối nhau |
| Tháng Tám | Hợi | Mão | Tả tiến, Hữu lùi |
| Tháng Chín | Tý | Dần | Giáp cung Sửu |
| Tháng Mười | Sửu | Sửu | Đồng cung tại Sửu |
| Tháng Mười Một | Dần | Tý | Giáp cung Sửu |
| Tháng Chạp | Mão | Hợi | Tả tiến, Hữu lùi |
Bảng trên cho thấy tháng Tư và tháng Mười là hai tháng duy nhất Tả Hữu đồng cung, lần lượt tại Mùi và Sửu; tháng Giêng và tháng Bảy hai sao đứng ở hai cung đối nhau Thìn, Tuất. Tháng Ba và tháng Năm hai sao đứng ở hai cung hai bên cung Mùi (Ngọ và Thân); tháng Chín và tháng Mười Một đứng hai bên cung Sửu (Tý và Dần), tức thế giáp. Cứ cách sáu tháng, mỗi sao sang cung đối diện với cung cũ.
Tả Hữu đồng cung tại Sửu Mùi có ý nghĩa gì?
Khi Tả Phù và Hữu Bật đồng cung tại Sửu hoặc Mùi, sách Tử Vi đẩu số tân biên gọi đây là cách "Tả Hữu đồng cung, phi la y tử", nghĩa là được hưởng phú quý song toàn, ví như người mặc áo gấm tía. Sách viết: "Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi, có Tả, Hữu tọa thủ đồng cung, lại gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Khoa, Quyền, Lộc tất được hưởng phú qúy song toàn". Điều này cho thấy vị trí đồng cung tại Sửu Mùi được đánh giá rất cao, nhưng điều kiện đi kèm là phải có thêm các sao cát tinh hội hợp.
Sách còn nhấn mạnh thêm: "Mộ phùng Tả, Hữu tôn cư bát tọa chi qúy", tức khi cung Mệnh an tại Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) có Tả Hữu tọa thủ, lại gặp nhiều sao tốt đẹp hội hợp thì rất quý hiển. Tả Hữu tọa thủ tại Tứ Mộ được xem là sáng sủa hơn tại các vị trí khác. Tử Vi áo bí biện chứng học thì xếp Tả Hữu miếu địa ở Thìn, Tuất và vượng địa ở Sửu, Mùi.
Tuy nhiên, không phải cứ thấy Tả Hữu đồng cung tại Sửu Mùi là kết luận tốt đẹp. Sách cũng chép câu phú "Tả, Hữu, Kình Dương, tao hình lục" và giải rằng cung Mệnh có Tả Hữu tọa thủ mà gặp Kình Dương hội hợp là cách xấu, sách gắn với chuyện hình pháp. Điều này cho thấy bản chất của Tả Hữu không cố định mà phụ thuộc rất nhiều vào các sao đi kèm.
Khi Tả Hữu đồng cung tại Sửu Mùi gặp các sao nào thì tốt?
Theo Tử Vi đẩu số tân biên, cung Mệnh an tại Tứ Mộ có Tả Hữu tọa thủ là hợp cách; nếu lại gặp Tử Vi, hoặc nhóm Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương (sách gọi là văn đoàn), hoặc nhóm Sát, Phá, Liêm, Tham (võ cách) hội hợp thì sách luận là hoạnh phát công danh, hưởng giàu sang. Phần đại cương của sách cũng xếp Tả Hữu gặp Tử, Phủ, Xương, Khúc, Khôi, Việt cùng Khoa, Quyền, Lộc vào thế đẹp.
Hai câu phú khác của sách không riêng cho thế đồng cung. Câu "Tả, Hữu, Khôi, Việt ư phúc thọ" được giải là cung Mệnh có Tả Hữu tọa thủ, lại gặp Khôi Việt thì hưởng phúc. Câu "Tả, Phủ đồng cung, tôn cư vạn thừa" được sách cho là toàn mỹ khi cung Mệnh an tại Tuất. Theo bảng trên, ở Tuất chỉ có Tả Phù (sinh tháng Bảy), Hữu Bật khi ấy ở Thìn, nên câu sau nói Tả Phù đồng cung với Thiên Phủ; Tử Vi áo bí biện chứng học gọi thế Tả Phụ đồng cung với Thiên Phủ ở Tuất là "tả-phủ-cách".
Tả Hữu giáp cung và Tả Hữu hội chiếu khác gì nhau?
Tử Vi áo bí biện chứng học gọi thế hai sao đứng hai bên một cung là giáp biên và ghi: sinh tháng Ba, tháng Năm thì Tả Hữu giáp biên tại cung Mùi; sinh tháng Chín, tháng Mười Một thì giáp biên tại cung Sửu. Như vậy Tả Hữu chỉ kẹp được hai cung Mùi và Sửu. Sách dặn thêm cách giáp biên "phải đúng phương vị". Tử Vi đẩu số tân biên chép câu "Tả, Hữu giáp Mệnh vi qúy cách": cung Mệnh có nhiều sao sáng sủa hội hợp, lại giáp Tả, giáp Hữu thì sách xếp là quý cách.
Hội chiếu là khi Tả Hữu không ở cung Mệnh mà ở cung xung chiếu hay các cung tam hợp chiếu về. Tử Vi đẩu số tân biên chép câu "Tả, Hữu, đơn thủ chiếu Mệnh, ly tông thứ xuất" và giải rằng cung Mệnh có Tả Hữu xung chiếu hoặc hội chiếu thì đương số sớm rời gia đình, lập nghiệp ở phương xa; hay dở thế nào sách bảo xét các sao hội hợp ở cung Mệnh. Tử Vi áo bí biện chứng học thì viết Tả Hữu "ở tam phương củng chiếu chỉ là thứ cách" so với khi đồng thủ cung Mệnh hay cung Thiên Di.
Tả Hữu đi cùng cát tinh và hung tinh khác nhau thế nào?
Phần nói về tính chất các sao của Tử Vi đẩu số tân biên tóm Tả Hữu trong hai dòng: gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm cho tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm cho xấu xa thêm. Ở cung Nô Bộc, sách luận Tả Hữu gặp nhiều sao sáng sủa là người giúp việc đắc lực, bạn bè tốt; Tả Hữu gặp Tướng, Binh là người giúp việc tận tâm.
Về nữ mệnh, sách chép rằng nếu Tả Hữu tọa thủ cung Mệnh và có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, thì đương số là người hiền hậu, siêng năng, vượng phu ích tử và giàu có hơn người.
Vì sao các sách nói Tả Hữu tốt hay xấu là tùy sao đi cùng?
Tử Vi áo bí biện chứng học ví hai sao như hai hàng văn võ của một ông vua, Tả Phụ thuộc hàng văn, Hữu Bật thuộc hàng võ, chuyên đi theo để phò tá các cách, nhất là bộ Tử Phủ. Vì là sao đi theo, sách viết Tả Hữu hội với cát tinh thì hóa cát, gặp hung tinh thì hóa hung, và đồng cung thì nên ở cùng cát tinh. Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư nói cùng ý: Tả Hữu là khả năng hơn người, "tốt hay xấu tuỳ liên kết hợp tác".
Tử Vi đẩu số tân biên chép câu phú "Tả Phụ, Hữu Bật chung thân phúc hậu" và giải rằng cung Mệnh có Tả Hữu tọa thủ, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp thì được hưởng phúc. Lời giải của sách luôn kèm điều kiện về các sao hội hợp ấy.
Tả Hữu có phải lúc nào cũng tốt?
Theo các sách thì không. Tử Vi đẩu số tân biên chép cả những thế bị coi là xấu: Tả Hữu gặp Kình Dương hội hợp, Tả Hữu gặp nhiều sao mờ ám hay sát tinh. Ở cung Nô Bộc, sách luận Tả Hữu đi cùng Địa Không, Địa Kiếp là bạn bè và người giúp việc không đáng tin. Tử Vi áo bí biện chứng học viết gọn hơn: đồng cung mà hội với hung tinh thì Tả Hữu theo về phía hung tinh.
Những lưu ý khi luận giải Tả Phù Hữu Bật
Khi luận giải Tả Hữu, cần đặt chúng trong tổng thể lá số, không nên chỉ nhìn vào vị trí đồng cung hay giáp cung để kết luận. Sách Tử Vi đẩu số tân biên nhấn mạnh rằng Tả Hữu tại Tứ Mộ sáng sủa hơn tại các vị trí khác, nhưng điều này chỉ đúng khi có nhiều sao tốt hội hợp. Nếu cung Mệnh an tại Sửu Mùi có Tả Hữu đồng cung nhưng lại gặp nhiều sát tinh, kết quả có thể ngược lại hoàn toàn.
Cuối cùng, cần nhớ rằng Tả Hữu là phụ tinh, không phải chính tinh. Chúng không quyết định tính cách cốt lõi hay vận mệnh tổng thể của đương số, mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, làm tăng thêm hoặc giảm bớt ảnh hưởng của các sao khác. Do đó, khi luận giải, cần kết hợp với các chính tinh, các bộ sao khác và cả các cung vị liên quan để có cái nhìn toàn diện.
