Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Nghi lễ vòng đời

Trùng tang là gì, vì sao người Việt chọn giờ nhập quan và kiêng ngày chôn cất: tang lễ nhìn từ nhân học

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chia sẻ:
越
TL;DR: Trong dân gian, trùng tang được hiểu là hiện tượng người trong cùng dòng họ chết liên tiếp trong một khoảng thời gian ngắn, và người ta kiêng để người mới mất rơi vào thế ấy. Tục chọn giờ nhập quan, kiêng ngày chôn cất và chọn đất đã được các tác giả cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 như Gustave Dumoutier (1904) và Phan Kế Bính (1915) mô tả ở Bắc Kỳ, còn Đỗ Lan Hiền (2013) phân tích các quan niệm tôn giáo đứng sau chúng và lý do các cuộc vận động cải cách tang lễ ít đạt kết quả. Chưa có khảo sát định lượng nào trong danh mục nguồn kiểm chứng trùng tang như một hiện tượng, nên đây là chuyện quan niệm, không phải chuyện quy luật.

Nhãn trong bài:Tư liệu lịch sửQuan niệm dân gianChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Trùng tang và giờ nhập quan: câu trả lời ngắn

Trong dân gian, trùng tang được hiểu là hiện tượng nhiều người trong cùng một dòng họ lần lượt qua đời trong một khoảng thời gian ngắn, và người ta cho rằng người mới mất có thể "kéo" người thân theo nếu không làm lễ trấn hoặc không chọn đúng giờ, đúng ngày, đúng đất để an táng. Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnCách hiểu này gắn với tục chọn giờ nhập quan, kiêng ngày chôn cất và chọn long huyệt, những thực hành đã được mô tả khá kỹ trong các sách về phong tục Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 2012.

Nghiên cứu nhân học và tôn giáo học hiện nay không đọc các kiêng kỵ ấy như quy luật khách quan, mà như cách con người giảm bất an khi đối diện cái chết, đồng thời tái lập trật tự trong gia đình và dòng họ. Nói cách khác, câu hỏi không phải là "trùng tang có thật không", mà là "vì sao người ta tin điều đó và niềm tin ấy làm gì cho người đang có tang".

Dumoutier 1904 và Phan Kế Bính 1915 tả tang lễ Bắc Kỳ thế nào?

Hai văn bản này là tư liệu mô tả quan trọng nhất còn lại về tang lễ người Việt ở Bắc Kỳ giai đoạn cận đại. Hai tác giả khác nhau về vị trí quan sát: một là công chức người Pháp làm việc tại Bắc Kỳ, một là nhà nho soạn sách phong tục cho người Việt đọc, nhưng cả hai đều ghi nhận một hệ thống kiêng kỵ khá dày đặc quanh việc chọn ngày giờ và chọn đất.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnGustave Dumoutier, trong Le rituel funéraire des Annamites xuất bản tại Hà Nội năm 1904, đã dựng lại bộ nghi lễ tang ma của người An Nam với các phần về chọn ngày giờ, chọn đất và các kiêng kỵ phải tuân theo1. Sách này thuộc loại khảo tả dân tộc học tôn giáo thời thuộc địa, nên nó chứng minh điều người đương thời quan sát và ghi lại, không chứng minh điều được ghi lại là đúng theo nghĩa khách quan.

Phan Kế Bính, trong Việt Nam phong tục, in thành sách năm 1915 sau khi đăng trên Đông Dương tạp chí các năm 1913-1914, đã dành phần gia tộc để mô tả việc tang và các tục kiêng2. Bản số hoá dùng ở đây là bản Nhà sách Khai Trí in lại tại Sài Gòn năm 1973. Cách mô tả của Phan Kế Bính nghiêng về giải thích cho người đọc hiểu vì sao tổ tiên làm vậy, nên nó vừa là tư liệu mô tả tập tục, vừa là văn bản diễn giải đạo hiếu theo tinh thần Nho giáo.

Đối chiếu hai văn bản cho thấy một điểm đáng chú ý: cả Dumoutier lẫn Phan Kế Bính đều không trình bày tang lễ như một nghi thức cố định, mà như một chuỗi quyết định phụ thuộc vào tuổi tác, thân phận người mất và hoàn cảnh gia đình. Chính vì thế, các kiêng kỵ mới có chỗ để co giãn, và cũng chính vì thế mới khó nói có một "bản chuẩn" của tang lễ Bắc Kỳ.

Đỗ Lan Hiền 2013: quan niệm gì đứng sau giờ nhập quan và trùng tang?

Đỗ Lan Hiền, trong bài "Một số vấn đề trao đổi về tang lễ của người Việt hiện nay" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 8 năm 2013, đã khảo cứu các triết thuyết Nho giáo, Phật giáo, Công giáo cùng các quan niệm y thuật, phong thuỷ và tử vi để làm rõ ý nghĩa của một số nghi thức tang lễ người Việt. Tác giả chỉ ra rằng những thực hành như xem ngày giờ, chọn long huyệt hay cải táng không nằm gọn trong một tôn giáo nào, mà là kết quả chồng lớp của nhiều truyền thống khác nhau qua nhiều thế kỷ.

Cũng theo Đỗ Lan Hiền, các cuộc vận động nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Nhà nước phát động, dù được cụ thể hoá thành quy chế, quy định và hương ước ở các địa phương, đã thu được kết quả không nhiều. Tác giả gọi hiện tượng này là những thực hành cũ vẫn tồn tại và len lỏi trong đời sống, sẵn sàng bùng phát khi có cơ hội. Lý do được bài nêu không nằm ở việc người dân thiếu thông tin, mà ở chỗ các nghi thức tang lễ mang chức năng tâm lý và xã hội mà một quy định hành chính khó thay thế: chúng giúp người sống tin rằng mình đã làm tròn đạo hiếu với người đã khuất.

Vì sao vận động nếp sống mới ít làm tang lễ thay đổi?

Câu trả lời ngắn là: vì tang lễ không chỉ là thủ tục, mà là chỗ để người sống xử lý cảm xúc và xác nhận vị trí của mình trong dòng họ. Một quy định có thể rút ngắn thời gian để tang, hạn chế kèn trống hay cấm rải tiền thật trên đường đưa tang, nhưng khó thay được cảm giác "nếu không làm đủ thì mình có lỗi với người mất".

Đỗ Lan Hiền ghi nhận rằng cùng với xu hướng phục hồi nhiều thực hành tốn kém trong việc ăn uống, kèn trống và cúng tế, đã xuất hiện trở lại việc xem ngày giờ, yểm bùa, đốt vàng mã và rải tiền thật, kèm theo hiện tượng chiếm đất nghĩa trang của làng xã để xây lăng mộ lớn. Đây là mô tả tình hình đầu thập niên 2010, không phải số liệu đo lường trên toàn quốc.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnChưa có khảo sát định lượng nào trong danh mục nguồn của bài này đo mức thực hành các kiêng kỵ tang ma ở Việt Nam hiện nay, cũng chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng trùng tang như một hiện tượng nhân khẩu học. Điều ta có chỉ là các bản mô tả tập tục và các phân tích diễn giải.

Bảng đối chiếu: kiêng kỵ, người ghi chép, lời giải thích và cách đọc

Kiêng kỵ hay thực hànhNgười ghi chép, nămLời giải thích của người thực hànhCách nhà nghiên cứu đọc
Chọn giờ nhập quanDumoutier, 19041; Phan Kế Bính, 19152Giờ nhập quan ảnh hưởng tới sự an ổn của người sống và người mấtNghi thức đánh dấu thời điểm chuyển tiếp, giúp gia đình có mốc để hành động
Kiêng ngày chôn cấtDumoutier, 19041; Phan Kế Bính, 19152Ngày xấu có thể khiến dòng họ gặp chuyện không lànhCách giảm bất an bằng việc tuân theo một trật tự có sẵn
Chọn long huyệt (đất táng)Đỗ Lan Hiền, 2013; Dumoutier, 19041Đất tốt thì con cháu được nhờ, đất xấu thì hệ luỵ lâu dàiQuan niệm phong thuỷ chồng lên đạo hiếu Nho giáo
Trùng tangĐỗ Lan Hiền, 2013Người mới mất có thể kéo theo người thân nếu không trấnNiềm tin gắn với nỗi sợ mất thêm người thân, không có kiểm chứng độc lập
Cải tángĐỗ Lan Hiền, 2013Sau một thời gian thì sang cát cho người mất được yênNghi thức tái khẳng định quan hệ giữa người sống và người mất
Kiêng kỵ tang ma nói chung (trước 1975)Toan Ánh, 19693Nhiều điều kiêng cữ khác nhau tuỳ vùng và tuỳ dòng họTư liệu mô tả tập quán của một nhà sưu tầm văn hoá dân gian3

Cần lưu ý rằng bảng trên không phải bảng tra cứu để làm theo, mà là bảng đối chiếu giữa lời người thực hành và cách đọc của giới nghiên cứu. Các ô "cách nhà nghiên cứu đọc" chỉ phản ánh điều các nguồn trong danh mục nói, không phải kết luận chung cho toàn bộ giới nhân học.

Trùng tang có phải là một phép tính đúng không?

Không có nguồn nào trong danh mục này kiểm chứng trùng tang như một hiện tượng khách quan. Điều ta có là: (a) các bản mô tả tập tục cho thấy người Việt ở một số vùng tin vào trùng tang và có cách trấn; (b) Đỗ Lan Hiền phân tích các quan niệm tôn giáo và phong thuỷ đứng sau những thực hành ấy; (c) chưa có khảo sát định lượng hay nghiên cứu dịch tễ nào trong danh mục đo lường hiện tượng này.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnVì vậy, khi có người nói "gia đình này bị trùng tang", đó là một cách diễn giải sự việc, không phải một kết quả tính toán đã được kiểm chứng. Bài này không tính giờ trùng tang, không xác nhận và cũng không phủ nhận cách tính ấy; nó chỉ ghi nhận rằng cách tính ấy tồn tại trong đời sống và đã được các nhà nghiên cứu mô tả.

Vì sao niềm tin vẫn đổi được hành vi?

Có một điểm cần nói rõ, vì nó hay bị hiểu sai theo cả hai phía. Niềm tin vào trùng tang hay vào giờ nhập quan có thể tạo ra hiệu ứng có thật, nhưng hiệu ứng ấy đến từ hành vi mà niềm tin thúc đẩy, không phải từ việc niềm tin đoán đúng quy luật. Một gia đình tin rằng phải làm lễ trấn thì sẽ tổ chức tang lễ chu đáo hơn, gọi đông đủ người thân về, dành nhiều thời gian chăm sóc nhau hơn. Những hành vi ấy có thể làm dịu tang thương và củng cố quan hệ gia đình. Đó là hiệu ứng xã hội, không phải bằng chứng cho quy luật trùng tang.

Nói cách khác, ta có thể ghi nhận rằng niềm tin ấy có ích cho người đang tang mà không cần khẳng định nó đúng về mặt nhân khẩu học. Cách đọc này khớp với hướng phân tích của Đỗ Lan Hiền khi tác giả nhấn mạnh chức năng của nghi thức trong việc giữ trật tự và ý nghĩa cho gia đình.

Những chỗ các nguồn không thống nhất

Các nguồn trong danh mục không thống nhất ở vài điểm. Thứ nhất, Dumoutier mô tả tang lễ như một hệ thống nghi lễ có trật tự, còn Phan Kế Bính lại nhấn mạnh phần đạo hiếu và trách nhiệm của con cháu12. Hai cách mô tả này không mâu thuẫn, nhưng chúng dẫn tới hai cách đọc khác nhau về vai trò của kiêng kỵ: một bên xem kiêng kỵ là phần của nghi lễ, một bên xem kiêng kỵ là phần của luân lý gia đình.

Thứ hai, Toan Ánh mô tả nhiều kiêng kỵ tang ma trước 1975, nhưng sách này chỉ còn thẻ thư mục trong kho, không có toàn văn, nên bài chỉ dẫn lại điều tóm tắt nói chứ không thêm chi tiết3. Điều đó có nghĩa là ta biết sách ấy có mô tả kiêng kỵ, nhưng không thể trích dẫn cụ thể từng điều kiêng.

Thứ ba, Đỗ Lan Hiền ghi nhận các cuộc vận động cải cách ít kết quả, nhưng bài không đưa số liệu đo lường. Đây là nhận định định tính dựa trên quan sát của tác giả, không phải kết quả khảo sát diện rộng.

Bài này không nói gì và nói tiếp ở đâu

Bài này không tính giờ trùng tang, không đưa công thức chọn giờ nhập quan, không khuyên làm hay bỏ bất kỳ kiêng kỵ nào. Mục đích của bài là trả lời câu hỏi "những kiêng kỵ ấy đến từ đâu", chứ không phải "nên làm thế nào".

Nếu bạn đang cần danh sách các kiêng kỵ cụ thể khi nhà có tang, bài Quan niệm dân gian về kiêng kỵ khi nhà có tang liệt kê chúng. Nếu bạn muốn bức tranh tổng thể về tang lễ người Việt, bài Tang lễ truyền thống của người Việt: Ý nghĩa văn hóa và các hình thức phổ biến trình bày các hình thức và ý nghĩa văn hoá. Bài đang đọc trả lời câu hỏi "từ đâu ra", hai bài kia trả lời câu hỏi "gồm những gì".

Kết luận

Kiêng kỵ tang ma là quan niệm dân gian có lịch sử ghi chép dài, ít nhất từ cuối thế kỷ 19 qua các bản mô tả của Dumoutier và Phan Kế Bính12. Nghiên cứu nhân học và tôn giáo học hiện nay đọc chúng qua chức năng an ủi người sống và giữ trật tự trong gia đình, dòng họ, chứ không qua câu hỏi đúng sai. Không có nguồn nào trong danh mục kiểm chứng trùng tang như một hiện tượng, và cũng chưa có khảo sát định lượng về mức thực hành các kiêng kỵ này ở Việt Nam hiện nay.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Trùng tang là gì?

Trong dân gian, trùng tang được hiểu là hiện tượng nhiều người trong cùng dòng họ lần lượt qua đời trong một khoảng thời gian ngắn, và người ta cho rằng người mới mất có thể kéo theo người thân nếu không làm lễ trấn. Cách hiểu này gắn với tục chọn giờ nhập quan, kiêng ngày chôn cất và chọn đất, đã được Dumoutier (1904) và Phan Kế Bính (1915) mô tả ở Bắc Kỳ. Không có nguồn nào trong danh mục kiểm chứng trùng tang như một hiện tượng khách quan.

Vì sao người Việt chọn giờ nhập quan?

Theo các bản mô tả tập tục cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, việc chọn giờ nhập quan xuất phát từ niềm tin rằng thời điểm đưa người mất vào quan tài ảnh hưởng tới sự an ổn của cả người sống và người đã khuất. Đỗ Lan Hiền (2013) phân tích rằng đằng sau tục này là sự chồng lớp của nhiều truyền thống: Nho giáo, Phật giáo, phong thuỷ và tử vi. Nhà nghiên cứu hiện nay đọc đây là nghi thức đánh dấu thời điểm chuyển tiếp, giúp gia đình có mốc để hành động trong lúc tang thương.

Vì sao vận động nếp sống văn minh trong việc tang ít làm thay đổi kiêng kỵ?

Theo Đỗ Lan Hiền (2013), các cuộc vận động cải cách tang lễ dù được cụ thể hoá thành quy chế, quy định và hương ước ở địa phương đã thu được kết quả không nhiều. Lý do không nằm ở việc người dân thiếu thông tin, mà ở chỗ nghi thức tang lễ mang chức năng tâm lý và xã hội mà quy định hành chính khó thay thế: chúng giúp người sống tin rằng mình đã làm tròn đạo hiếu với người đã khuất, đồng thời tái lập trật tự trong gia đình và dòng họ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgGustave Dumoutier (1904). Le rituel funéraire des Annamites: étude d'ethnographie religieuse. Hanoi: F.-H. Schneider, 1904, trang bìa và phần Avant-proposLE RITUEL FUNERAIRE DES ANNAMITES ETUDE D’ETHNOGRAPHIE RELIGIEUSE PAR Gustave Dumoutier
  2. ↑ abcdefPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, phần Nói về phong tục trong gia tộc, mục về tang lễVIỆT-NAM PHONG-TỤC của PHAN-KẾ-BÍNH
  3. ↑ abcToan Ánh (1969). Nếp cũ: Tín ngưỡng Việt Nam. Sài Gòn: Hoa Đăng, 1969 (2 quyển); in lại NXB TP. Hồ Chí Minh 1991, thẻ thư mục, kho không có toàn văn

Đọc thêm

#TrùngTang#GiờNhậpQuan#KiêngKỵNgàyChônCất#TangLễNgườiViệt#PhongTụcTangMa#NghiLễVòngĐời#ĐỗLanHiền#PhanKếBính