Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Người Việt đầu thế kỷ 20 xem bói, xem ngày, cầu đồng thế nào: đọc lại Phan Kế Bính, Diguet, Nguyễn Văn Huyên

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chia sẻ:
越
TL;DR: Phan Kế Bính (1915), Édouard Diguet (1906) và Nguyễn Văn Huyên (1944) đều ghi nhận bói toán, xem ngày, đồng bóng là thực hành phổ biến ở Bắc Kỳ đầu thế kỷ 20. Ba người nhìn nó bằng ba lăng kính khác nhau: Nho học cải lương, sĩ quan thuộc địa, nhà dân tộc học. Tư liệu cho thấy thực hành và cách giới trí thức đương thời nhìn nó, không chứng minh gì về hiệu lực của bói toán.

Nhãn trong bài:Tư liệu lịch sửQuan niệm dân gianDiễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Câu trả lời ngắn: ba người ghi, ba lăng kính

Một trăm năm trước, bói toán, xem ngày và cầu đồng không phải chuyện riêng của một hạng người. Ba người ghi chép đầu thế kỷ 20 đều thấy nó có mặt trong việc cưới xin, ma chay, làm nhà, buôn bán, chữa bệnh, kiện cáo. Nhưng cách họ nhìn nó thì khác hẳn nhau.

  • Phan Kế Bính viết với tư cách nhà Nho cải lương, vừa ghi nhận tục, vừa bình phẩm, vừa muốn phân biệt cái gì nên giữ với cái gì nên bỏ.
  • Édouard Diguet, sĩ quan thuộc địa Pháp, quan sát người Việt từ bên ngoài, ghi chép nhiều chi tiết nhưng đọc qua lăng kính của người cai trị.
  • Nguyễn Văn Huyên là nhà dân tộc học Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Sorbonne; ông quan sát bằng phương pháp khoa học và đứng từ vị trí người trong cuộc.

Ba lăng kính ấy cho ba loại tư liệu khác nhau, và người đọc hôm nay cần biết mình đang đọc loại nào.

Phan Kế Bính 1915: tục, lời bình, và lời khuyên của một nhà Nho cải lương

Phan Kế Bính đăng loạt bài phong tục trên Đông Dương tạp chí các năm 1913 đến 1914, in thành sách Việt Nam phong tục năm 19151. Mục lục tác phẩm có hẳn một loạt mục về chủ đề này: toán số, tướng thuật, phù thủy, thanh đồng, đồng cốt, cô hồn, các cách chiêm đoán, các cách chiêm nghiệm, xem ngày kén giờ, các việc kiêng kỵ, các phương thuật, tính tình1. Chỉ riêng danh mục ấy đã cho thấy ông coi đây là một mảng lớn của đời sống, không phải chuyện lẻ tẻ.

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnÔng ghi nhận người ta xem ngày khi cưới hỏi, khi động thổ, khi xuất hành, khi khởi sự làm ăn; xem tướng để đoán tính người; gọi hồn, lên đồng để hỏi việc, để chữa bệnh, để tìm người mất tích.

Nhưng Phan Kế Bính không chỉ ghi. Ông bình. Giọng của ông là giọng một nhà Nho chịu ảnh hưởng tân học, thấy nhiều tục là thói quen cũ cần uốn nắn chứ không phải là chân lý. Ông phân biệt giữa phong tục thuần hậu nên giữ, và những thói mê tín nên bỏ dần. Đây là thái độ cải lương đầu thế kỷ, không phải thái độ bác bỏ thẳng thừng, cũng không phải thái độ bênh vực.

Điểm đáng chú ý cho người đọc hôm nay: Phan Kế Bính viết cho người Việt đọc, giả định người đọc đã biết những tục ấy, nên ông ít giải thích cặn kẽ mà tập trung vào miêu tả và bình luận. Muốn dựng lại chi tiết cách làm, phải đọc thêm người ngoài.

Diguet 1906: người ngoài ghi, và cái nhìn của người cai trị

Édouard Diguet, sĩ quan thuộc địa Pháp, in Les Annamites: société, coutumes, religions ở Paris năm 19062. Trong lời tựa, chính ông nói rõ đây không phải công trình khảo cứu khoa học đầy đủ, mà là kết quả quan sát ghi chép hằng ngày trong mười bốn năm sống ở Viễn Đông, dựa thêm vào các tác phẩm của những người đi trước như Luro và Dumoutier2.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnÔng cũng nói rõ mục đích: nếu tác phẩm khiến được vài người đồng hương chú ý tới dân tộc mà nước Pháp đã nhận trách nhiệm dẫn dắt vận mệnh, thì tác giả đã thấy đủ2. Câu ấy đặt cuốn sách vào đúng chỗ của nó: tư liệu mô tả phục vụ công cuộc thuộc địa.

Diguet ghi chép về đời sống, phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo của người Việt Bắc Kỳ, trong đó các chương về chùa chiền, lễ nghi, thực hành tín ngưỡng là phần được đánh giá cao trong thư từ của người đề tựa2. Với chủ đề bói toán và phù thủy, cuốn sách cung cấp mô tả có giá trị như một bản ghi của người ngoài cuộc, ở một thời điểm cụ thể, tại một địa bàn cụ thể.

Loại tri thức: Trường pháiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnNhưng người đọc cần biết: Diguet viết trong khung tư duy thuộc địa, gọi người Việt bằng những chữ mà ngày nay đọc lên thấy nặng. Trích ông, phải trích kèm lời dẫn để người đọc biết mình đang đọc ai, viết cho ai, ở đâu. Giá trị của bản ghi nằm ở chi tiết quan sát, không nằm ở nhận xét.

Dumoutier 1891: danh mục vật thờ và đồ lễ cuối thế kỷ 19

Năm 1891, tại Paris, Gustave Dumoutier cho in Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites3; ông là người cùng thời và từng được Diguet nhắc tới. Đây không phải sách về bói toán, mà là danh mục mô tả các biểu tượng, đồ thờ và vật dụng nghi lễ của người Việt, kèm hình vẽ do chính người Việt vẽ3.

Loại tri thức: Trường pháiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTrong lời tựa, Dumoutier viết rằng dân tộc học tôn giáo phải là chương đầu của lịch sử mọi quốc gia châu Á, vì không ai hiểu được một dân tộc nếu không hiểu tinh thần và truyền thống tôn giáo của họ3. Đây là cách đặt vấn đề nghiêm túc, nhưng vẫn là văn bản của một người Pháp viết cho độc giả Pháp cuối thế kỷ 19.

Với người đọc hôm nay, Dumoutier hữu ích ở chỗ khác: ông giúp dựng lại bối cảnh vật chất của nghi lễ, những thứ như chữ Phúc chữ Thọ khắc trên đồ vật, hình rồng trên áo quan lại, các vật dụng đi kèm bàn thờ3. Không có bối cảnh ấy, mô tả về bói và cầu đồng sẽ trôi nổi.

Nguyễn Văn Huyên 1944: người trong cuộc, phương pháp khoa học

Nguyễn Văn Huyên in La civilisation annamite ở Hà Nội năm 1944, bản dịch tiếng Việt Văn minh Việt Nam ra sau đó4. Sorbonne đào tạo ông thành nhà dân tộc học Việt Nam đầu tiên, và tác phẩm của ông khái quát toàn cảnh dân tộc học về văn minh người Việt4.

Trong các chương về tín ngưỡng, thờ cúng, lễ hội, ông dành phần cho phù thủy và bói toán4. Điểm khác biệt so với hai người trước: ông viết từ bên trong nền văn hoá ấy, với phương pháp của một nhà dân tộc học, không phải với tư cách người cải lương muốn sửa tục và cũng không phải người cai trị muốn hiểu dân để trị.

Loại tri thức: Trường pháiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnVị trí ấy có mặt mạnh và mặt yếu. Mạnh vì ông hiểu ngữ cảnh, biết cái gì là biến dạng địa phương và cái gì là phổ biến. Yếu vì người trong cuộc cũng có thể bỏ qua điều mà người ngoài nhìn thấy ngay.

Đào Duy Anh 1938: thuật số trong một tổng quan văn hoá

Năm 1938 tại Huế, Đào Duy Anh cho in Việt Nam văn hoá sử cương; sách khái lược văn hoá Việt Nam theo ba mặt kinh tế, xã hội và trí thức5. Trong sách có mục bàn về tôn giáo, tín ngưỡng, thuật số và các tục mê tín đầu thế kỷ 205.

Đây là một trong những tổng quan văn hoá học sớm nhất viết bằng tiếng Việt, đặt bói toán và thuật số vào bức tranh chung của đời sống trí thức, chứ không tách riêng thành chuyện dị đoan. Cách đặt vấn đề ấy có ảnh hưởng tới cách viết về tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam về sau.

Bảng đối chiếu: ai ghi, năm nào, ghi gì, thái độ ra sao

Người ghiNămTác phẩmGhi về cái gìThái độ của người ghi
Phan Kế Bính1915Việt Nam phong tụcToán số, tướng thuật, phù thủy, thanh đồng, đồng cốt, cô hồn, chiêm đoán, xem ngày kén giờ, việc kiêng kỵNhà Nho cải lương: ghi nhận rồi bình, phân biệt tục nên giữ với thói nên bỏ
Édouard Diguet1906Les Annamites: société, coutumes, religionsĐời sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo người Việt Bắc KỳSĩ quan thuộc địa: quan sát từ ngoài, khung tư duy của người cai trị
Gustave Dumoutier1891Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les AnnamitesBiểu tượng, đồ thờ, vật dụng nghi lễNhà nghiên cứu Pháp: lập danh mục mô tả, có hình vẽ người Việt
Nguyễn Văn Huyên1944La civilisation annamiteTín ngưỡng, thờ cúng, lễ hội, phù thủy, bói toánNhà dân tộc học người trong cuộc, phương pháp khoa học
Đào Duy Anh1938Việt Nam văn hoá sử cươngTôn giáo, tín ngưỡng, thuật số, các tục mê tínNhà văn hoá học: đặt vào tổng quan ba mặt kinh tế, xã hội, trí thức

Vì sao bói toán và xem ngày lại có mặt khắp nơi?

Câu hỏi đặt ra không phải là bói có đúng hay không, mà là vì sao nó ăn sâu vào đời sống đến vậy. Tư liệu của ba người ghi cho thấy vài lý do có thể đọc ra được.

Thứ nhất, xã hội nông nghiệp cần lịch. Trồng cấy, cưới hỏi, làm nhà, đi buôn đều gắn với thời tiết và mùa vụ. Một hệ thống xem ngày kén giờ cho người ta một cách sắp xếp thời gian dù chưa có lịch in phổ cập. Xem ngày, ở góc độ này, là một dạng quản lý lịch biểu bằng ngôn ngữ can chi.

Thứ hai, khi không có chế tài chính thức đủ mạnh cho mọi việc, cộng đồng cần cách phân xử. Xem ngày, xem tướng, hỏi đồng có thể đóng vai trò như một bên thứ ba đưa ra ý kiến, giúp giảm tranh cãi.

Thứ ba, bệnh tật và mất mát thời ấy thường không có lời giải. Khi thuốc không đủ, khi nguyên nhân cái chết không rõ, việc tìm một cách hiểu nào đó, dù không kiểm chứng được, cũng là cách để người ta sống tiếp.

Ba lý do ấy không loại trừ nhau, và chúng cũng không biến bói toán thành đúng. Chúng chỉ giải thích vì sao nó phổ biến.

Đọc tư liệu thuộc địa mà không mượn giọng thuộc địa

Đây là chỗ dễ sai nhất khi viết về chủ đề này. Diguet và Dumoutier là tư liệu quý, nhưng cả hai đều viết trong khung tư duy của người Pháp ở Đông Dương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Diguet tự nhận sách mình là quan sát hằng ngày, không phải khảo cứu khoa học đầy đủ2. Dumoutier viết cho độc giả Pháp, dù đặt vấn đề nghiêm túc3.

Cách dùng đúng: lấy chi tiết mô tả, bỏ nhận xét giá trị. Không mượn chữ miệt thị của nguồn. Không biến quan sát của một sĩ quan thuộc địa thành sự thật về người Việt.

Chỗ bằng chứng còn thiếu

Tư liệu của cả ba người ghi tập trung vào Bắc Kỳ. Phan Kế Bính viết ở Hà Nội, Diguet phục vụ ở Bắc Kỳ, Nguyễn Văn Huyên công tác ở Hà Nội. Nam Kỳ và Trung Kỳ gần như vắng trong các mô tả chi tiết về bói toán, xem ngày, cầu đồng.

Điều này không có nghĩa là người Nam Kỳ không làm những việc ấy. Nó chỉ có nghĩa là tư liệu hiện có chưa cho phép nói gì chắc chắn về miền Nam. Ai muốn dựng lại bức tranh đầy đủ phải tìm thêm nguồn khác, và cho tới khi có, mọi khái quát cho cả nước đều là suy diễn.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCũng cần nói rõ: các tư liệu này không có số liệu định lượng. Không ai đếm được bao nhiêu phần trăm người Việt xem bói, bao nhiêu gia đình có bàn thờ đồng cốt. Mọi con số về tỷ lệ đều là phỏng đoán, và bài này không đưa ra con số nào.

Hiệu ứng có thật sinh ra từ niềm tin

Một điều cần nói cho đúng: khi một người tin rằng mình đã chọn được ngày tốt, người ấy có thể bình tĩnh hơn, tự tin hơn, và do đó hành động khác đi. Niềm tin đổi hành vi, hành vi đổi kết quả. Đây là hiệu ứng có thật, và nó không chứng minh hệ thống bói toán đoán đúng. Cũng không phải là chuyện cần phủ nhận.

Phân biệt hai điều này là điều kiện để đọc tư liệu về bói toán mà không rơi vào hai thái cực: hoặc coi mọi lời bói là linh nghiệm, hoặc coi mọi người tin là kém cỏi. Cả hai đều không phải cách đọc tư liệu.

Đọc lại ba người ghi hôm nay

Phan Kế Bính, Diguet và Nguyễn Văn Huyên cho ba loại tư liệu bổ sung cho nhau. Phan Kế Bính cho cái nhìn của người trong cuộc muốn cải cách. Diguet cho cái nhìn của người ngoài có quyền lực. Nguyễn Văn Huyên cho cái nhìn của người trong cuộc có phương pháp. Đào Duy Anh đặt tất cả vào bức tranh văn hoá rộng hơn5.

Đọc chồng lên nhau, ta dựng lại được phần nào bức tranh đầu thế kỷ 20: bói toán, xem ngày, cầu đồng là thực hành phổ biến, có mặt trong những việc trọng đại của đời người, và giới trí thức đương thời nhìn nó bằng nhiều con mắt khác nhau, từ cải lương tới thuộc địa tới khoa học.

Điều tư liệu không cho ta biết là bói có đúng hay không. Đó là câu hỏi khác, và nó không thuộc phạm vi của những cuốn sách này. Để hiểu bối cảnh rộng hơn về những tục lệ ấy, có thể đọc thêm bài Phong tục tập quán Việt Nam là gì?.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Đầu thế kỷ 20, người Việt xem bói và xem ngày vào những dịp nào?

Theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915), người ta xem ngày khi cưới hỏi, động thổ, xuất hành, khởi sự làm ăn; xem tướng để đoán tính người; gọi hồn, lên đồng để hỏi việc, chữa bệnh, tìm người mất tích. Đây là mô tả thực hành, không phải khẳng định hiệu lực.

Vì sao Diguet và Dumoutier cần được trích kèm lời dẫn?

Cả hai là người Pháp viết cho độc giả Pháp trong khung tư duy thuộc địa. Diguet tự nhận sách mình là quan sát hằng ngày, không phải khảo cứu khoa học đầy đủ, và nói rõ mục đích phục vụ công cuộc thuộc địa. Giá trị của họ nằm ở chi tiết quan sát, không ở nhận xét giá trị.

Tư liệu đầu thế kỷ 20 có cho biết bói toán đúng hay sai không?

Không. Các tư liệu này ghi lại thực hành và cách giới trí thức đương thời nhìn nó. Chúng không có số liệu định lượng, không có phép thử, và không chứng minh gì về hiệu lực. Tư liệu cũng tập trung ở Bắc Kỳ, thiếu Nam Kỳ, nên không thể khái quát cho cả nước.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Mục lục, trang 92XXII.— Toán số XXIV.— Tướng thuật XXV.— Phù thủy XXVI— Thanh đồng XXVIIL.— Đồng cốt XXVHIL— Cô hồn XXIX.— Các cách chiêm đoán XXX.— Các cách chiêm nghiệm XXXI— Xem ngày kén giờ XXXIH.— Các việc kiêng ky XXXII.— Các phương thuật
  2. ↑ abcdeÉdouard Diguet (1906). Les Annamites: société, coutumes, religions. Paris: Augustin Challamel, 1906, Lời tựa, trang 1Un d n'y cherrlie au contraire (jui' le modeste fruit d"ol»sei vations faites au jour le jour pendant tjuatorze an- nées passées en Extrême-Orient, guidées et étayées par les savants écrits des Luro, des Dumoutier, etc.
  3. ↑ abcdeGustave Dumoutier (1891). Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites. Paris: Ernest Leroux, 1891, Avant-propos, trang 1L'ethnographie religieuse doit constituer lé premier chapitre de l'histoire de toute nation asiatique.
  4. ↑ abcNguyễn Văn Huyên (1944). La civilisation annamite. Hanoi: Direction de l'Instruction publique de l'Indochine, 1944; bản dịch 'Văn minh Việt Nam' NXB Hội Nhà văn 1995, Thẻ thư mục, tóm tắt của Nhật Nguyệt
  5. ↑ abcĐào Duy Anh (1938). Việt Nam văn hoá sử cương. Huế: Quan Hải tùng thư, 1938; nhiều lần in lại (NXB Văn hoá - Thông tin, Đồng Tháp...), Thẻ thư mục, tóm tắt của Nhật Nguyệt
#PhongTụcNgườiViệtXưa#ViệtNamPhongTụcPhanKếBính#XemBóiĐầuThếKỷ20#ĐồngBóng#TínNgưỡngDânGian#NguyễnVănHuyên#ĐàoDuyAnh