Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Vượng tướng hưu tù tử: năm trạng thái ngũ hành theo mùa tính thế nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Vượng tướng hưu tù tử: năm trạng thái ngũ hành theo mùa tính thế nào?

TL;DR: Vượng, tướng, hưu, tù, tử là năm mức khí lực mà một hành nhận được khi đối chiếu với mùa đang trị. Hành cùng mùa là vượng, hành được mùa sinh là tướng, hành sinh ra mùa là hưu, hành khắc mùa là tù, hành bị mùa khắc là tử. Đây là quy ước tính của thuật số, không phải phép đo khoa học, và các sách có thể lệch nhau ở chỗ xếp Thổ.

Vượng tướng hưu tù tử là gì?

Vượng tướng hưu tù tử là năm trạng thái khí lực của ngũ hành theo mùa. Cách tính gọn nhất: lấy hành đem đối chiếu với mùa đang trị, xem giữa chúng là tương tỷ (cùng loại), tương sinh hay tương khắc; quan hệ nào thì ra trạng thái ấy. Sách Lục Nhâm, quyển 1 phần Nhập môn, gọi nhóm này là ngũ khí và ghi rõ: "Tỷ thời vi vượng, thời sinh vi tướng, sinh thời vi hưu, khắc thời vi tù, thời khắc vi tử"[1]. Tam mệnh thông hội quyển 2 giảng cùng quy tắc ấy bằng ví dụ mùa xuân: "盛德乘時曰旺,如春木旺,旺則生火,火乃木之子,子乘父業,故火相", rồi Thủy sinh Mộc nên Thủy hưu, Kim bị Hỏa chế nên Kim tù, Mộc khắc Thổ nên Thổ tử[4]. Nói cách khác, đây là thang năm bậc để biết một hành đang mạnh hay yếu trong bối cảnh thời tiết mà nó đang nằm trong đó.

Cần nói ngay một điều để tránh hiểu lệch: đây là quy ước của thuật số, không phải một định luật tự nhiên đo được bằng dụng cụ. Nó dùng để luận tốt xấu trong các môn như Lục Nhâm, Tử Vi, phong thủy, chứ không nói được điều gì về vật lý hay sinh học.

Vượng tướng hưu tù tử tính theo quy tắc nào?

Quy tắc gốc gọn trong năm dòng, và mọi bảng tra về sau đều suy ra từ đó:

  • Tỷ thời vi vượng: hành cùng loại với mùa thì vượng. Mùa xuân thuộc Mộc, gặp Mộc là vượng.
  • Thời sinh vi tướng: hành được mùa sinh thì tướng. Mùa xuân Mộc sinh Hỏa, nên Hỏa tướng.
  • Sinh thời vi hưu: hành sinh ra mùa thì hưu. Mùa xuân Mộc được Thủy sinh, nên Thủy hưu.
  • Khắc thời vi tù: hành khắc mùa thì tù. Mùa xuân Mộc bị Kim khắc, nên Kim tù.
  • Thời khắc vi tử: hành bị mùa khắc thì tử. Mùa xuân Mộc khắc Thổ, nên Thổ tử.

Ở đây "thời" được sách Lục Nhâm hiểu là mùa, bao gồm cả Tứ thời lẫn Tứ quý; phép này không giới hạn ở hành mà áp dụng cho bất kỳ Can, Chi hay Thiên tướng nào: đối chiếu nó với mùa để xác định sinh, khắc hay tỷ hòa, từ đó định khí[1]. Điểm này quan trọng vì nó cho thấy vượng tướng hưu tù tử không phải bảng dành riêng cho hành, mà là phép gán trạng thái cho từng đối tượng cụ thể khi nó rơi vào một mùa.

Ý nghĩa tốt xấu của từng khí cũng được sách Lục Nhâm luận sẵn: vượng là lúc cực thịnh, hợp với người công chức, quan chức vì là điểm cần quan lộc; tướng là khá vượng và đang chuyển theo hướng cực thịnh, ứng với làm ăn phát đạt, được tài lộc; hưu là vô sự, thoái nghỉ, ứng với bệnh hoạn suy vi, còn gọi là thoái khí[1].

Bảng tra năm trạng thái theo bốn mùa ra sao?

Bảng dưới đây xếp thành ô những gì Tam mệnh thông hội và Ngũ hành đại nghĩa của Tiêu Cát đời Tùy chép thành câu: xuân thì Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử, và cứ thế cho các mùa sau[4][5]. Hai sách ấy ghi hàng cuối là tháng sáu; bảng dùng tên Tứ quý theo cách chia nói ở mục dưới.

MùaMộcHỏaThổKimThủy
XuânVượngTướngTửTùHưu
HạHưuVượngTướngTửTù
ThuTửTùHưuVượngTướng
ĐôngTướngTửTùHưuVượng
Tứ quýTùHưuVượngTướngTử

Bảng này khớp đúng với quy tắc năm dòng ở trên. Lấy mùa hạ làm ví dụ: Hạ thuộc Hỏa nên Hỏa vượng; Hỏa sinh Thổ nên Thổ tướng; Mộc sinh Hỏa nên Mộc hưu; Hỏa khắc Kim nên Kim tử; Thủy khắc Hỏa nên Thủy tù. Đối chiếu với bảng, hàng "Hạ" ghi đúng như vậy.

Tứ quý là bốn tháng cuối mùa, tức tháng 3, 6, 9, 12 âm lịch, ứng với bốn chi Thìn, Mùi, Tuất, Sửu. Hiệp kỷ biện phương thư quyển 1 giải thích: mỗi tháng quý bớt mười hai ngày trả cho hành của mùa, còn mười tám ngày là "thổ vương dụng sự", nhờ vậy mỗi hành được bảy mươi hai ngày[6]. Tam mệnh thông hội cũng dẫn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa chia vượng bốn mùa, mỗi hành bảy mươi hai ngày, Thổ vượng tứ quý mỗi quý mười tám ngày, cộng lại ba trăm sáu mươi ngày[4]. Đó là mười tám ngày cuối mỗi mùa, ngay trước lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông. Đây là chỗ cần lưu ý khi tra bảng, vì nếu chỉ nhớ bốn mùa mà quên đoạn chuyển tiếp thì sẽ tính thiếu giai đoạn Thổ cầm quyền.

Vì sao Thổ hay bị xếp lệch giữa các sách?

Đây là điểm các sách không thống nhất, nên cần nói rõ bài này đang theo quy ước nào. Thổ không có mùa riêng. Ngũ hành đại nghĩa cho Thổ vượng vào tháng sáu, giữa hạ và thu: "六月則土王,金相,火休,木囚,水死"[5]; mục Luận ngũ hành vượng tướng hưu tù tử của Tam mệnh thông hội cũng chép như vậy[4]. Cách thứ hai chia Thổ ra bốn tháng cuối mùa, mỗi lần mười tám ngày, như Hiệp kỷ biện phương thư và lời Túy Tỉnh Tử mà Tam mệnh thông hội dẫn[6][4]. Bảng trên theo cách thứ hai.

Một cách trình bày khác lại gọi tên nhóm này là ngũ hành tiêu trưởng và dùng chữ "tuyệt" thay cho "tử", rồi liệt kê theo từng hành đang vượng. Chẳng hạn khi Mộc vượng thì Kim tù, Thổ tuyệt, Hỏa tướng, Thủy hưu; khi Hỏa vượng thì Thủy tù, Kim tuyệt, Thổ tướng, Mộc hưu[2]. Cách viết này cho kết quả trùng với bảng bốn mùa ở bốn hành Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, chỉ khác ở chỗ gọi tên bậc cuối là tuyệt và không tách riêng giai đoạn Tứ quý cho Thổ.

Vậy nên khi đọc tài liệu, gặp chữ "tuyệt" ở vị trí lẽ ra là "tử", nên hiểu là cùng một bậc trong thang, chỉ khác cách gọi. Còn khi thấy tài liệu chỉ ghi Thổ vượng tháng sáu thì đó là cách chép của Ngũ hành đại nghĩa và Tam mệnh thông hội nói trên, không phải lỗi in.

Trong Lục Nhâm, khí quyết định việc mau hay chậm như thế nào?

Trong Lục Nhâm, vượng tướng hưu tù tử dùng để phán sự việc mau hay chậm, được hay không được. Lục Nhâm đại toàn quyển 3 có câu: "旺相氣發必欲速,休囚死氣皆遲延", nghĩa là khí vượng tướng phát dụng thì việc mau, khí hưu tù tử thì đều chậm trễ; lời chú giảng rằng xuân thì Mộc vượng, Hỏa tướng, bốn mùa cứ theo loại mà suy[3].

Sách Lục Nhâm, quyển 1, cũng đặt khí vào trung tâm khi luận tài: nếu Thanh long và thừa thần của nó được vượng tướng khí, hoặc lâm vượng tướng phương, lại cùng Can Chi tương sinh hoặc tác tam hợp, lục hợp, thì là điềm cầu được tiền tài; trái lại nếu bị hưu tù tử khí hoặc tương khắc, tác tam hình, lục hại, lục xung thì là điềm cầu chẳng được tiền tài[1]. Chỗ này cũng nhắc một chi tiết kỹ thuật: lâm vượng phương nghĩa là cùng ngũ hành với địa bàn, còn lâm tướng phương nghĩa là được ngũ hành của phương địa bàn sinh[1].

Có phải hành nào vượng cũng là tốt?

Không hẳn. Vượng chỉ nói khí đang ở mức cực thịnh, còn tốt hay xấu phải tùy việc đang hỏi và tùy vị trí. Sách Lục Nhâm khi luận khí có ghi vượng hợp với người công chức, quan chức vì là điểm cần quan lộc, nhưng đó là nói theo hướng cầu quan lộc, không phải câu khẳng định chung cho mọi việc[1].

Tam mệnh thông hội cũng dặn: thấy sinh vượng chưa hẳn đã luận là cát, thấy hưu tù tử tuyệt chưa hẳn đã nói là hung; sinh vượng thái quá thì nên chế phục, tử tuyệt bất cập thì nên sinh phù[4]. Như vậy vượng tướng hưu tù tử là thang đo khí lực, không phải bảng xếp hạng tốt xấu cố định. Hiểu sai chỗ này dễ dẫn tới việc thấy chữ "vượng" là mừng, thấy chữ "tử" là sợ, trong khi cách luận đúng là đặt nó vào câu hỏi cụ thể.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi dùng bảng này là gì?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi bạn tra một hành trong lá số hay trong quẻ, hãy làm theo ba bước. Một, xác định mùa đang trị theo tiết khí chứ không theo tháng dương lịch, vì tiết khí mới là mốc mà các sách dùng. Hai, kiểm tra xem thời điểm ấy có rơi vào mười tám ngày trước tiết lập hay không, vì đó là lúc Thổ cầm quyền theo cách chia của Hiệp kỷ biện phương thư[6]. Ba, ghi rõ mình đang theo quy ước nào về Thổ và về chữ "tử" hay "tuyệt", để tránh lẫn giữa hai cách trình bày.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: đừng dùng bảng này để kết luận về sức khỏe hay tài chính của một người thật. Trong các sách, nó là công cụ luận đoán trong nội bộ môn học; còn với đời sống, nó chỉ nên là một cách nhìn tham khảo, không thay cho quyết định thực tế.

Nhớ cả bảng bằng cách nào?

Cách nhớ gọn nhất vẫn là năm dòng gốc: cùng mùa thì vượng, được mùa sinh thì tướng, sinh ra mùa thì hưu, khắc mùa thì tù, bị mùa khắc thì tử[1]. Từ đó suy ra cả bảng bốn mùa, không cần học thuộc từng ô. Chỉ cần nhớ thêm hai điểm dễ sai: Thổ gá vào Tứ quý với mốc mười tám ngày trước bốn tiết lập[6], và một số sách gọi bậc cuối là tuyệt thay vì tử[2].

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Vượng tướng hưu tù tử khác gì ngũ hành sinh khắc?

Ngũ hành sinh khắc là quan hệ giữa hai hành với nhau. Vượng tướng hưu tù tử là kết quả khi lấy quan hệ ấy đối chiếu với mùa đang trị, để biết hành đó đang mạnh hay yếu trong bối cảnh thời tiết cụ thể.

Vì sao có sách ghi tử, có sách ghi tuyệt?

Đó là hai cách gọi cùng một bậc trong thang. Tam mệnh thông hội và Ngũ hành đại nghĩa dùng chữ tử, còn Tử Vi áo bí dùng chữ tuyệt khi liệt kê theo từng hành đang vượng. Kết quả tính ở bốn hành Mộc, Hỏa, Kim, Thủy là trùng nhau.

Thổ vượng vào lúc nào?

Theo quy ước phổ biến, Thổ vượng vào Tứ quý, tức bốn tháng 3, 6, 9, 12, và cụ thể là mười tám ngày trước các tiết lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông. Ngũ hành đại nghĩa và mục vượng tướng hưu tù tử của Tam mệnh thông hội chép cách khác là Thổ vượng tháng sáu, nên cần ghi rõ quy ước đang dùng.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgLục Nhâm, quyển 1: Nhập môn, trang 5, mục 8 Ngũ hành tác ngũ khíTỷ thời vi vượng (cùng Ngũ hành với Mùa thì Vượng). Thời sinh ví tướng (Ngũ hành được Mùa sinh thì Tướng). Sinh thời vỉ hưu (Ngũ hành sinh Mùa thì Hưu). Khắc thời vi tù (Ngũ hành khắc Mùa thì Tù).
  2. ↑ abTử Vi áo bí biện chứng học Việt Viêm Tử, trang 388, mục Ngũ hành tiêu trưởng1) Khi MỘC VƯỢNG thời : kim tù mà thổ tuyệt hỏa tướng, thuỷ hưu
  3. ↑Quách Tái Lai (biên) (không rõ năm). Lục Nhâm đại toàn (六壬大全)
  4. ↑ abcdefVạn Dân Anh (1578). Tam mệnh thông hội (三命通會, bản Tứ khố toàn thư), quyển 2, mục Luận ngũ hành vượng tướng hưu tù tử
  5. ↑ abTiêu Cát (đời Tùy). Ngũ hành đại nghĩa (五行大義), quyển 2, mục Luận tứ thời hưu vương
  6. ↑ abcdHiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, bản Tứ khố toàn thư), quyển 1
#VượngTướngHưuTùTử#NgũHành#NgũKhí#LụcNhâm#KỳMôn#TửVi#BảngVượngSuyNgũHành