
TL;DR: Khóa thể là tên gọi của một quẻ Lục Nhâm, đặt theo hình thái bốn khóa và ba truyền, không theo câu hỏi. Theo Lục Nhâm đại toàn, Nguyên Thủ là quẻ chỉ một khóa trên khắc dưới, Trùng Thẩm là quẻ chỉ một khóa dưới khắc trên, Tri Nhất là quẻ nhiều khóa cùng khắc phải chọn thần cùng âm dương với can ngày, Thiệp Hại là quẻ chọn như thế không được nên lấy thần đi qua nhiều chỗ bị khắc nhất. Sách xét dưới khắc trên trước, trên khắc dưới sau.
Khóa thể Lục Nhâm là gì và vì sao phải gọi tên quẻ?
Khóa thể là tên gọi của một quẻ Lục Nhâm, đặt theo hình thái của bốn khóa và ba truyền, không đặt theo câu hỏi. Người xem lấy nguyệt tướng gia lên giờ xem để an thiên bàn trên địa bàn, lập bốn khóa từ can và chi của ngày, rồi theo phép phát dụng lấy ra ba truyền Sơ, Trung, Mạt. Quẻ trước hết mang tên ứng với phép phát dụng đã dùng.
Lục Nhâm đại toàn gồm mười hai quyển; lời đề yếu của Tứ khố toàn thư ghi sách không đề tên người soạn, đầu quyển đề Quách Tái Lai, thôi quan phủ Hoài Khánh, hiệu đính, và cho là bản khắc đời Minh[1]. Quyển một chép chín phép phát dụng, quyển bảy mở đầu phần Khóa kinh với từng khóa thể[1]. Bốn khóa thể Nguyên Thủ, Trùng Thẩm, Tri Nhất, Thiệp Hại ứng với ba phép đầu: tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại.
Vì sao tên khóa thể lại quan trọng đến vậy?
Tên khóa thể cho biết thế chung của quẻ: thuận hay nghịch, việc nên khởi trước hay để sau. Nhưng sách không cho dừng ở tên. Đại toàn dẫn Tụ trung kim nói về Nguyên Thủ: "皆以神将吉凶" (đều lấy thần tướng mà định lành dữ), lại phải xét vượng suy theo bốn mùa, năm mệnh và ba truyền mới thấy lành dữ; khóa trên khắc dưới mà thần trên hưu tù, thần dưới vượng tướng thì dưới lại thắng trên[1].
Nguyên Thủ 元首 là gì?
Nguyên Thủ là quẻ mà trong bốn khóa chỉ có một khóa thần trên khắc thần dưới, các khóa còn lại không có khắc; khóa ấy phát dụng làm Sơ truyền. Khóa kinh của Lục Nhâm đại toàn viết: "凡一上克下,余课无克,为元首课"[1]. Sách gọi nó là "九宗之元,六十四课之首" (đầu của chín phép, đứng đầu sáu mươi bốn khóa), ví với vua chế ngự bề tôi, và cho thuộc thể quẻ Càn[1].
Lời tượng của khóa này mở bằng "天地得位,品物咸新" (trời đất đúng ngôi, muôn vật đều mới), rồi kể việc dùng người quân tử, vua tôi hòa hợp, dùng binh thì khách thắng[1]. Tụ trung kim nói quẻ này "尊制卑,贵制贱,占事多顺" (trên chế dưới, sang chế hèn, xem việc phần nhiều thuận) và "凡事宜先,事起男子" (việc nên làm trước, việc khởi từ đàn ông)[1].
Trùng Thẩm 重審 là gì?
Trùng Thẩm là quẻ mà trong bốn khóa chỉ có một khóa thần dưới khắc thần trên (sách gọi là hạ tặc thượng), các khóa còn lại không có khắc; khóa ấy phát dụng. Khóa kinh viết: "凡一下贼上,余课无克,为重审课"[1]. Tên gọi được giải là dưới phạm trên như bề tôi can vua, không dám tự tiện nên phải xét đi xét lại rồi mới làm; khóa thuộc thể quẻ Khôn[1].
Lời tượng có các câu "一下逆上,岂无忧惊", "事宜后起,祸从内生", "诸般谋望,先难后成" (một dưới nghịch trên, sao khỏi lo sợ; việc nên khởi sau, họa từ trong sinh; mưu việc gì cũng trước khó sau thành)[1].
Trùng Thẩm khác Nguyên Thủ ở chỗ nào?
Khác ở chiều khắc của khóa phát dụng, không ở chỗ khóa ấy nằm trên can hay trên chi. Nguyên Thủ là trên khắc dưới, Trùng Thẩm là dưới khắc trên. Phép tặc khắc ở quyển một xét dưới khắc trên trước: "取课先从下贼呼,如无下贼上克初" (lấy khóa trước hết tìm dưới khắc trên, không có mới lấy trên khắc dưới làm Sơ truyền)[1]. Vì thế lời đoán của Nguyên Thủ nghiêng về việc nên làm trước, của Trùng Thẩm nghiêng về việc nên để sau.
Tri Nhất 知一 là gì?
Tri Nhất là quẻ mà bốn khóa có từ hai khóa trở lên cùng khắc, phải chọn khóa có thần cùng âm dương với can ngày làm phát dụng. Khóa kinh viết: "凡课有二上克下,或二下克上,择课之阴阳与今日比者而为用神,曰知一课"; ngày dương lấy thần dương, ngày âm lấy thần âm[1]. Quyển một gọi phép này là tỷ dụng: "常将天日比神用,阳日用阳阴用阴"[1].
Tên Tri Nhất được giải là hai hào cùng động, việc có hai ngả, phải biết chọn một cái tương hợp mà dùng; khóa thuộc thể quẻ Tỷ[1]. Lời tượng có câu "祸从外起,事向朋谋。寻人失物,近处堪求" (họa từ ngoài tới, việc bàn với bạn bè, tìm người tìm của thì tìm ở gần)[1].
Thiệp Hại 涉害 là gì?
Thiệp Hại là quẻ có từ hai khóa trở lên cùng khắc mà các thần ấy hoặc đều cùng âm dương với can ngày, hoặc đều không, nên phép tỷ dụng không chọn được. Khi ấy đếm từ chỗ thần đang đứng trên địa bàn đi về vị trí gốc của nó, qua bao nhiêu chỗ bị khắc; thần nào qua nhiều chỗ khắc nhất thì phát dụng. Khóa kinh viết: "与今日俱比俱不比,则以涉地盘归本家受克深处为用,为涉害课" và giải "涉者,度也;害者,克也"[1].
Lời tượng mở bằng "风波险恶,度涉艰难" (sóng gió hiểm ác, vượt qua gian nan); sách nói người gặp quẻ này việc gì cũng khó, ắt chậm trễ, trải gian nan rồi mới được; khóa thuộc thể quẻ Khảm[1].
Khi hai thần qua số chỗ khắc bằng nhau thì cần luật phụ, và chính Đại toàn chép hai cách. Lời ca ở quyển một viết "孟深仲浅季当休", lấy vị mạnh, trọng, quý để định sâu nông; Khóa kinh ở quyển bảy viết "不论孟仲季比用,止取涉度害克位之最深者" và chép thêm ý của Úy Sơn nhân lấy mạnh, trọng của thiên bàn làm chuẩn[1].
Bảng đối chiếu bốn khóa thể cơ bản gồm những gì?
| Khóa thể | Phép phát dụng | Điều kiện trong bốn khóa | Thể quẻ sách gán | Lời tượng mở đầu |
|---|---|---|---|---|
| Nguyên Thủ | Tặc khắc | Chỉ một khóa trên khắc dưới, các khóa khác không khắc | Càn | 天地得位,品物咸新 |
| Trùng Thẩm | Tặc khắc | Chỉ một khóa dưới khắc trên, các khóa khác không khắc | Khôn | 顺天厚载,柔顺利贞 |
| Tri Nhất | Tỷ dụng | Từ hai khóa cùng khắc, lấy thần cùng âm dương với can ngày | Tỷ | 比者为喜,不比为忧 |
| Thiệp Hại | Thiệp hại | Từ hai khóa cùng khắc, đều tỷ hoặc đều không tỷ, lấy thần qua nhiều chỗ khắc nhất | Khảm | 风波险恶,度涉艰难 |
Bảng tóm theo chín phép ở quyển một và Khóa kinh ở quyển bảy của Lục Nhâm đại toàn[1].
Các khóa thể khác ngoài bốn thể cơ bản là gì?
Sau ba phép đầu, quyển một của Lục Nhâm đại toàn chép thêm sáu phép phát dụng: dao khắc (bốn khóa không khắc, lấy thần trên khóa khắc can ngày, không có thì lấy thần bị can ngày khắc; gọi là Hao Thỉ và Đạn Xạ), mão tinh (không khắc, không dao khắc, lấy thần theo vị Dậu), biệt trách (bốn khóa chỉ đủ ba, không khắc), bát chuyên (can và chi cùng một chỗ, chỉ có hai khóa, không khắc), phục ngâm và phản ngâm[1]. Mục lục khóa thể của sách đánh số Nguyên Thủ một, Trùng Thẩm hai, Tri Nhất ba, Thiệp Hại bốn, Dao Khắc năm, Mão Tinh sáu, Biệt Trách bảy, Bát Chuyên tám, Phục Ngâm chín, Phản Ngâm mười, rồi tới Tam Quang, Tam Dương và các khóa khác, đủ sáu mươi bốn[1].
Lục Nhâm trực chỉ (六壬直指) giải đủ 720 cục theo sáu mươi ngày, từ Giáp Tý cục một tới Quý Hợi cục mười hai; mỗi cục ghi khóa thể, khóa nghĩa, lời giải, lời đoán, có dẫn Khóa kinh, Chỉ chưởng phú, Tâm ấn phú[2]. Một cục thường mang vài tên cùng lúc: cục một ngày Giáp Tý ghi "课体:伏吟,元胎"[2].
Bế Khẩu và Tỉnh Lan
Bế Khẩu là quẻ có tuần vĩ gia lên tuần thủ phát dụng, hoặc tuần thủ cưỡi Huyền Vũ, hoặc thần trên vị tuần thủ cưỡi Huyền Vũ mà phát dụng: "凡旬尾加旬首,或旬首乘元武,或旬首位上神乘元武发用者,为闭口课"[1]. Sách giải đầu đuôi tuần gối vào nhau như vật đóng kín không thấy miệng; lời tượng mở bằng "禁口不语,事迹难明" (ngậm miệng không nói, dấu việc khó rõ)[1]. Tỉnh Lan là tên quẻ phản ngâm không có khắc: quyển một chép "返吟有克亦为用,无克别有井栏名", chỉ gặp ở sáu ngày Đinh, Kỷ, Tân mang chi Sửu hay Mùi; phần Lục Nhâm quân trướng phú trong sách gọi cách lấy truyền ấy là phép Tỉnh Lan Xạ (井栏射法)[1].
Làm sao để gọi tên một quẻ Lục Nhâm?
Gọi tên một quẻ đi theo bốn bước. Thứ nhất, lấy nguyệt tướng gia lên giờ xem để an thiên bàn. Thứ hai, lập bốn khóa từ can và chi của ngày. Thứ ba, xét phép phát dụng để có Sơ truyền: có khắc thì tặc khắc, nhiều khắc thì tỷ dụng rồi thiệp hại, không khắc thì dao khắc rồi mão tinh, bốn khóa không đủ thì biệt trách hay bát chuyên, mười hai thần nằm yên đúng vị gốc thì phục ngâm, thiên bàn xung địa bàn thì phản ngâm. Thứ tư, phép đã dùng cho tên đầu của quẻ, rồi xét hình ba truyền và thần sát để thêm các tên khác. Lời ca của phép tặc khắc ghi cách lấy Trung và Mạt: "初传之上名中次,中上加临是末居" (thần trên Sơ truyền là Trung truyền, thần trên Trung truyền là Mạt truyền)[1].
Có phải mọi quẻ đều có khóa thể không?
Có. Quẻ nào cũng rơi vào một trong chín phép phát dụng nên ít nhất mang một tên; phần lớn mang thêm vài tên theo hình ba truyền và thần sát. Với cùng ngày, giờ và nguyệt tướng, bốn khóa và ba truyền chỉ có một; chỗ có thể ra kết quả khác là những luật phụ các sách chép không giống nhau, như cách chọn khi hai thần Thiệp Hại sâu bằng nhau đã nói ở trên.
Nên học bốn khóa thể này theo thứ tự nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: học theo đúng thứ tự xét của sách: tìm khóa dưới khắc trên trước, rồi khóa trên khắc dưới, rồi mới tới trường hợp nhiều khắc phải chọn bằng tỷ dụng và thiệp hại. Tự lập vài quẻ rồi so tên với Lục Nhâm trực chỉ là cách kiểm nhanh, vì sách ấy ghi sẵn khóa thể của đủ 720 cục.
