Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Quẻ của ngày theo Quái khí: sáu ngày bảy phần và bốn quẻ tứ chính là gì?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Quẻ của ngày theo Quái khí: sáu ngày bảy phần và bốn quẻ tứ chính là gì?

TL;DR: Quái khí là phép gán 64 quẻ của Chu Dịch vào lịch một năm, khởi từ đời Hán. Bốn quẻ tứ chính Khảm, Ly, Chấn, Đoài đứng ngoài vòng 60 quẻ, chủ bốn mùa và bốn mốc đông chí, hạ chí, xuân phân, thu phân; 60 quẻ còn lại chia nhau 365 ngày 1/4, mỗi quẻ chủ sáu ngày bảy phần. Đây là quy ước của một trường phái Dịch học đời Hán, không phải dữ kiện thiên văn, và đã bị một số sách đời sau phản bác.

Quái khí là gì và vì sao lại có phép chia quẻ theo ngày?

Quái khí (卦氣) là phép lấy 64 quẻ của Chu Dịch trải ra theo lịch một năm, mỗi quẻ cai một đoạn thời gian, để xem khí trời đất vận hành thuận hay nghịch mà đoán việc lành dữ. Phép này gắn với tên Mạnh Hỷ (孟喜) và Kinh Phòng (京房) đời Hán, được chép lại trong các sách Dịch Hán học đời Thanh và trong Dịch vĩ Kê lãm đồ. Phép của Mạnh Hỷ không còn sách riêng; điều ta biết là qua sách đời sau chép lại, như lời Nhất Hạnh đời Đường rằng mười hai quẻ tháng ra từ chương cú của họ Mạnh, được Huệ Đống dẫn lại[1].

Cơ chế rất đơn giản về mặt số học. Một năm mặt trời có 365 ngày 1/4. Bốn quẻ Khảm, Ly, Chấn, Đoài được tách ra làm bốn quẻ tứ chính (四正卦), mỗi quẻ cai một mùa và một mốc chí phân. Sáu mươi quẻ còn lại chia nhau phần thời gian còn lại. Lấy 365,25 chia cho 60 ra 6,0875 ngày, tức sáu ngày và bảy phần tám mươi của ngày. Đó là con số sáu ngày bảy phần (六日七分) mà các sách Hán học nhắc đi nhắc lại.

Huệ Đống chép quái khí đồ của họ Mạnh: lấy Khảm, Ly, Chấn, Đoài làm bốn quẻ tứ chính, còn 60 quẻ mỗi quẻ chủ sáu ngày bảy phần, cộng lại đúng vòng trời[1]. Ông cũng chép ý cho rằng 12 quẻ tịch (thái, đại tráng, quải, càn, cấu, độn, phủ, quan, bác, khôn, phục, lâm) là quẻ vua, các quẻ còn lại là quẻ bề tôi, bốn quẻ tứ chính là phương bá. Cách phân vai này là quy ước của trường phái, không phải kết quả đo đạc.

Sáu ngày bảy phần được tính như thế nào?

Sáu ngày bảy phần là cách nói gọn của sáu ngày cộng bảy phần tám mươi của ngày. Một ngày chia làm tám mươi phần, mỗi quẻ chủ sáu ngày và bảy phần, tức 6 + 7/80 ngày. Lấy 60 quẻ nhân lên: 60 × 6 = 360 ngày, cộng thêm 60 × 7/80 = 5,25 ngày, tổng cộng 365,25 ngày, vừa khớp một năm.

Sách này ghi lại lời phản bác: nếu một quẻ chủ sáu ngày bảy phần thì 64 quẻ phải là 389 ngày lẻ, không khớp một năm[3]; và cho rằng phép chia quẻ theo ngày là thuật chiêm tai dị của Kinh Phòng, không phải ý gốc của thánh nhân. Đây là chỗ các phái không thống nhất, cần nói rõ: phép sáu ngày bảy phần là quy ước của phái quái khí, không phải cách tính lịch được mọi nhà Dịch chấp nhận.

Vì sao lại là bảy phần mà không phải số khác?

Vì 360 ngày chia đều cho 60 quẻ thì mỗi quẻ được sáu ngày, còn dư năm ngày một phần tư. Lấy phép chia một ngày làm tám mươi phần, năm ngày một phần tư là 420 phần, chia cho 60 quẻ thì mỗi quẻ được đúng bảy phần. Con số bảy phần vì thế là phép chia trọn, không phải làm tròn.

Bốn quẻ tứ chính là gì và chủ những gì?

Bốn quẻ tứ chính là Khảm, Ly, Chấn, Đoài. Chúng không nằm trong vòng 60 quẻ chia ngày, mà đứng riêng để chủ bốn mùa và bốn mốc lớn của năm.

Quẻ tứ chínhPhươngMùaMốc chí phân
KhảmBắcĐôngĐông chí
ChấnĐôngXuânXuân phân
LyNamHạHạ chí
ĐoàiTâyThuThu phân

Chỗ các sách khác nhau nằm ở phần thời gian của bốn quẻ này. Theo phép họ Mạnh, sáu mươi quẻ đều sáu ngày bảy phần, bốn quẻ tứ chính chỉ chia hào cho hai mươi bốn khí. Kinh Phòng thì dành bảy mươi ba phần tám mươi của ngày đầu Đông chí, Xuân phân, Hạ chí, Thu phân cho Khảm, Chấn, Ly, Đoài, và rút bốn quẻ Di, Tấn, Tỉnh, Đại Súc xuống năm ngày mười bốn phần[1].

Huệ Đống chép lời cho rằng bốn quẻ tứ chính cai bốn mùa, 24 hào cai 24 tiết khí, 12 quẻ tịch cai 12 tháng, 60 quẻ còn lại cai 365 ngày 1/4. Ông dẫn cả Kinh Phòng và các sách đời Hán để chứng minh phép này từng được dùng để đoán mưa nắng, chứ không chỉ để giảng nghĩa Kinh Dịch.

Sáu mươi quẻ chia ngày theo thứ tự nào?

Sáu mươi quẻ không chia theo thứ tự 64 quẻ trong kinh, mà theo một thứ tự riêng, khởi từ Trung Phu (中孚). Huệ Đống dẫn Dịch vĩ Kê lãm đồ: quái khí ngày Giáp Tý khởi từ Trung Phu, mỗi quẻ sáu ngày và bảy phần tám mươi của ngày; lời chú của Trịnh Khang Thành giải rằng tám mươi phần là một ngày[1].

Đây là vĩ thư đời Hán, lời chú truyền là của Trịnh Huyền, còn những câu mở bằng chữ 按 là lời án của quán thần đời Thanh khi gom sách từ Vĩnh Lạc đại điển. Vì thế bản hiện còn không thể coi là bản gốc nguyên vẹn của đời Hán.

Thứ tự 60 quẻ trong phép quái khí cũng khác thứ tự 64 quẻ trong kinh. Mỗi tháng khí có năm quẻ, Huệ Đống chép vai của chúng theo lịch Chính Quang đời Ngụy: Trung Phu là tam công, Phục là thiên tử, Truân là chư hầu, Khiêm là đại phu, Khuê là cửu khanh[1].

Vì sao phép quái khí lại quan trọng trong Dịch học đời Hán?

Vì nó biến Kinh Dịch từ sách bói toán thành công cụ đo khí trời đất. Các nhà Hán học dùng quái khí để đoán mưa nắng, hạn lụt, và để giải thích tại sao cùng một quẻ mà gặp thời khác nhau lại cho kết quả khác nhau.

Sách Hán thư chép lời đối sách của Cốc Vĩnh: vua theo đạo thì quái khí thuận, mất đạo thì quái khí loạn. Hậu Hán thư chép lời sớ của Trương Hành cũng nói luật lịch quái hậu có nghiệm. Đây là dẫn chứng cho thấy phép quái khí từng được dùng trong triều chính đời Hán, chứ không chỉ là chuyện của các nhà bói[1].

Huệ Đống kết rằng các nhà Nho đời Hán đều dùng quái khí để chiêm nghiệm, nhưng từ Tống, Nguyên trở đi Hán học ngày một mất, gần như không ai còn biết quái khí là gì[1].

Các phái phản bác phép quái khí như thế nào?

Có ít nhất hai dòng phản bác lớn. Dòng thứ nhất cho rằng phép chia quẻ theo ngày là thuật chiêm tai dị của Kinh Phòng, không phải ý gốc của thánh nhân. Dòng thứ hai cho rằng phép tính sáu ngày bảy phần tự nó sai số học, vì 64 quẻ nhân lên không khớp một năm.

Sách này chép lời phản bác: nếu một quẻ chủ sáu ngày bảy phần thì 64 quẻ phải là 389 ngày lẻ, không khớp một năm; và cho rằng phép chia quẻ theo ngày là thuật chiêm tai dị của Kinh Phòng, không phải ý gốc của thánh nhân. Lời phản bác này có lý về mặt số học, nhưng cần lưu ý: phép quái khí không lấy cả 64 quẻ chia ngày, mà tách bốn quẻ tứ chính ra trước, chỉ chia 60 quẻ. Nếu tính đúng theo cách ấy thì con số khớp.

Vương Sung đời Đông Hán phê phán tục chọn ngày và tin Thái Tuế. Theo ông, mệnh sống chết thọ yểu và mệnh sang hèn giàu nghèo của con người đã bẩm khí lúc mới sinh, chứ không phải chọn ngày mà đổi được. Ông không bàn riêng về quái khí, nhưng lời ấy cho thấy ngay đời Hán đã có người bác lối đoán việc theo ngày.

Quái khí khác gì với các phép gán quẻ vào ngày khác?

Có nhiều phép gán quẻ vào ngày, không chỉ quái khí. Sách Điền Gian Dịch học của Tiền Trừng Chi chép phép của Tiêu Diên Thọ: mỗi quẻ chủ một ngày, khởi từ Càn ngày Giáp Tý, Khôn ngày Ất Sửu, đến Vị Tế ngày Quý Hợi, hết 60 ngày; bốn quẻ tứ chính chủ bốn ngày chí phân, không nằm trong vòng 60 quẻ[4]. Phép này khác phép Kinh Phòng ở chỗ Kinh Phòng chủ sáu ngày bảy phần, còn Tiêu Diên Thọ chủ một ngày.

Sách chép lời của Hạng Bình Am: phép Tiêu Diên Thọ theo thứ tự 64 quẻ trong kinh, mỗi quẻ chủ một ngày; phép Kinh Phòng dùng thứ tự của Thái Huyền, mỗi quẻ chủ sáu ngày bảy phần. Hai phép khác nhau ở thứ tự quẻ và ở độ dài thời gian mỗi quẻ chủ.

Sự khác nhau này cho thấy ngay trong đời Hán đã có ít nhất hai cách gán quẻ vào ngày, và các sách đời sau chép lại cả hai mà không thống nhất với nhau. Người đọc không nên coi một cách là cách duy nhất đúng.

Ngày nay nên hiểu quẻ của ngày theo quái khí như thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn gặp một trang tra cứu nói "quẻ của ngày hôm nay là quẻ X", nên hỏi lại trang ấy dùng phép nào. Có ít nhất ba phép khác nhau: quái khí của Kinh Phòng, phép của Tiêu Diên Thọ, và phép của Mai Hoa Dịch số. Mỗi phép cho một kết quả khác nhau, và không phép nào được coi là chuẩn chung.

Nếu bạn muốn tự tra theo phép quái khí, cần có bảng thứ tự 60 quẻ khởi từ Trung Phu và ngày khởi đầu. Bảng này có trong Dịch vĩ Kê lãm đồ và trong các sách Hán học đời Thanh. Nhưng cần nhớ: đây là quy ước của một trường phái, không phải dữ kiện thiên văn, và các sách đời sau đã phản bác cách tính này. Dùng để tham khảo thì được, dùng để quyết định việc lớn thì không nên.

Sách này dạy cách lấy quẻ theo thời gian, nhưng không dùng phép quái khí. Sách chép: "旺者,如寅卯之月日則木旺,巳午之月日火旺", nghĩa là tháng ngày Dần Mão thì mộc vượng, tháng ngày Tị Ngọ thì hỏa vượng. Đây là phép lấy quẻ theo ngũ hành của thời điểm, khác hẳn phép chia quẻ theo ngày của quái khí.

Tóm lại

Quái khí là phép gán 64 quẻ vào lịch một năm, khởi từ đời Hán, gắn với tên Mạnh Hỷ và Kinh Phòng. Bốn quẻ tứ chính Khảm, Ly, Chấn, Đoài đứng ngoài vòng 60 quẻ, chủ bốn mùa và bốn mốc chí phân; 60 quẻ còn lại chia nhau 365 ngày 1/4, mỗi quẻ chủ sáu ngày bảy phần. Đây là quy ước của một trường phái Dịch học, không phải dữ kiện thiên văn, và các sách đời sau đã phản bác cách tính này. Người đọc nên biết rõ phép nào đang được dùng khi tra quẻ của ngày.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Sáu ngày bảy phần nghĩa là gì?

Sáu ngày bảy phần là cách nói gọn của sáu ngày cộng bảy phần tám mươi của ngày, tức 6,0875 ngày. Đây là khoảng thời gian mỗi quẻ trong 60 quẻ chủ theo phép quái khí, tính bằng cách lấy 365 ngày 1/4 chia cho 60.

Bốn quẻ tứ chính là những quẻ nào?

Bốn quẻ tứ chính là Khảm, Ly, Chấn, Đoài, theo quái khí đồ của họ Mạnh mà Huệ Đống chép. Chúng đứng ngoài vòng 60 quẻ chia ngày, chủ bốn mùa và bốn mốc đông chí, hạ chí, xuân phân, thu phân. Chỗ các sách khác nhau là phần thời gian: Kinh Phòng dành cho chúng 73 phần tám mươi của ngày đầu mỗi mốc chí phân, còn họ Mạnh thì không.

Phép quái khí có phải là cách tính lịch chính thống không?

Không. Phép quái khí là quy ước của một trường phái Dịch học đời Hán, không phải cách tính lịch được nhà làm lịch dùng. Các sách đời sau như Chu Dịch nghĩa hải toát yếu đã phản bác cách tính này, cho rằng đó là thuật chiêm tai dị của Kinh Phòng, không phải ý gốc của thánh nhân.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgHuệ Đống (không rõ năm). Dịch Hán học (易漢學, Huệ Đống, bản Tứ khố toàn thư, 8 quyển), Quyển 1, Mạnh Trường Khanh Dịch thượng, Quái khí đồ thuyết孟氏卦氣圖以坎離震兑為四正卦餘六十卦卦主六日七分合周天之數内辟卦十二謂之消息卦乾益為息坤虛為消其實乾坤十二畫也
  2. ↑Lý Hành và Phòng Thẩm Quyền (nguyên biên) (không rõ năm). Chu Dịch nghĩa hải toát yếu (周易義海撮要, Lý Hành, bản Tứ khố toàn thư, 12 quyển), Quyển 1, phần bàn về phép sáu ngày bảy phần又况六十四卦以每卦管六日而言之即當有三百八十四日又每卦益之以七分計有四百四十八分得五日余四十八分緫其數當有三百八十九日余四十八分則当期之數謬矣
  3. ↑Tiền Trừng Chi (không rõ năm). Điền Gian Dịch học (田間易學, Tiền Trừng Chi, bản Tứ khố toàn thư, 12 quyển), Quyển 1, phần phụ lục về phép chia quẻ theo ngày của Tiêu Diên Thọ và Kinh Phòng項平庵曰焦氏卦法自干至未济直依周易本序以一卦直一日干直甲子坤直乙丑至未济直癸亥乃尽六十日而四正卦则直二分二至之日坎直冬至离夏至震春分兑秋分不在六十卦轮直之数此即京房六十卦气之法但京主六日七分此但主一日京用太之序焦用周易之序耳

Đọc thêm

  • Khuyết danh (vĩ thư đời Hán; chú quy cho Trịnh Huyền) (không rõ năm). Dịch vĩ Kê lãm đồ (易緯稽覽圖, vĩ thư đời Hán, bản Tứ khố toàn thư, 2 quyển), Thẻ thư mục, tóm tắt do Nhật Nguyệt viết
  • Vương Sung (không rõ năm). Luận hành, tám thiên về mệnh và chọn ngày (論衡: 命祿, 氣壽, 命義, 偶會, 譏日, 辨祟, 難歲, 詰術), Thẻ thư mục, tóm tắt do Nhật Nguyệt viết
  • Thiệu Ung (truyền thống quy) (không rõ năm). Mai Hoa Dịch số (梅花易數), Quyển 1, phần Phục minh thời lệnh chi ứng旺者,如寅卯之月日則木旺,巳午之月日火旺,申酉之月日金旺,亥子之月日水旺,辰戌丑未之月日土旺。
  • Kinh Phòng (không rõ năm). Kinh thị Dịch truyện (京氏易傳)
  • Huệ Đống (không rõ năm). Chu Dịch thuật (周易述, Huệ Đống, 21 quyển)
#QuáiKhí#SáuNgàyBảyPhần#BốnQuẻTứChính#KinhPhòng#MạnhHỷ#DịchHánHọc#ChuDịch#KinhDịch