Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ trong Lục Hào: sắc thái khi đậu trên hào và cách khởi lục thú theo can ngày

Chia sẻ:
Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ trong Lục Hào: sắc thái khi đậu trên hào và cách khởi lục thú theo can ngày
TL;DR: Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ là ba trong sáu lục thú của môn Lục Hào, khởi theo can ngày và an từ hào sơ trở lên. Đằng Xà chủ quái dị, kinh sợ, mộng mị; Bạch Hổ chủ uy mạnh, tang sự, máu, nhưng gặp Dụng Thần thì thành sức mạnh; Huyền Vũ chủ việc mờ ám, trộm cắp, tư tình. Cả ba đều là thần tô màu cho hào, không tự quyết định cát hung; cát hung do Dụng Thần và các thần sinh khắc quyết định.

Ba thần này thực chất là gì trong bàn quẻ Lục Hào?

Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ là ba trong sáu lục thú (lục thần) của môn Lục Hào: Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ. Sách Tăng San Bốc Dịch của Dã Hạc lão nhân bàn về lục thần ở chương 18, đặt chúng ngay sau các chương về nguyệt tướng và nhật thần, tức là sau khi đã xác lập được nền tảng vượng suy của quẻ. Điều đó cho thấy lục thú không phải là tầng quyết định cát hung, mà là tầng tô sắc thái lên một hào đã được định vị.

Cần phân biệt rõ ba hệ thống thường bị lẫn với nhau vì trùng tên. Thứ nhất là lục thú của Lục Hào, khởi theo can ngày và an từ hào sơ. Thứ hai là thiên tướng của Lục Nhâm, ở đó Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ được xem là các vị thần sở hữu bản vị, ngũ hành, phương vị cùng mùa vượng riêng; sách Lục Nhâm, quyển 1 mô tả cụ thể: bản vị của Đằng Xà đóng tại Đinh Tị, mang thuộc tính âm hỏa, tọa lạc ở phương Đông nam và đắc vượng vào mùa Hạ; bản vị của Bạch Hổ đóng tại Canh Thân, mang thuộc tính dương kim, tọa lạc ở phương Tây nam và đắc vượng vào mùa Thu; riêng Huyền Vũ có bản vị tại Hợi, được gọi là sao đạo tặc, khi chạm Thiên Không thì mang danh sao dối trá. Thứ ba là tứ linh trong phong thủy loan đầu, nơi Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ là bốn thế đất quanh huyệt, được mô tả trong sách Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt. Ba hệ này dùng chung tên gọi cổ nhưng vận hành theo luật hoàn toàn khác nhau. Bài này chỉ bàn hệ thứ nhất.

Khởi lục thú theo can ngày như thế nào?

Quy tắc khởi lục thú theo can ngày được Tăng San Bốc Dịch ghi gọn trong một câu ở chương 18: Giáp Ất khởi Thanh Long, Bính Đinh khởi Chu Tước, Mậu khởi Câu Trần, Kỷ khởi Đằng Xà, Canh Tân khởi Bạch Hổ, Nhâm Quý khởi Huyền Vũ. Thần khởi được an vào hào sơ, rồi theo thứ tự cố định Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ mà đi lên hào nhị, tam, tứ, ngũ, thượng. Như vậy một quẻ sáu hào luôn có đủ sáu thú, mỗi hào một thú, không thiếu không thừa.

Lục thú khởi ở hào sơ theo can ngày rồi đi lên theo thứ tự cố định.
Lục thú khởi ở hào sơ theo can ngày rồi đi lên theo thứ tự cố định.

Bảng dưới đây dựng theo lõi tính khoiLucThu trong luchao_data.go, đối chiếu với câu khẩu quyết trên và cho thấy thần nào đậu ở hào nào khi biết can ngày:

Can ngàyThần ở hào sơHào nhịHào tamHào tứHào ngũHào thượng
GiápThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch HổHuyền Vũ
ẤtThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch HổHuyền Vũ
BínhChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch HổHuyền VũThanh Long
ĐinhChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch HổHuyền VũThanh Long
MậuCâu TrầnĐằng XàBạch HổHuyền VũThanh LongChu Tước
KỷĐằng XàBạch HổHuyền VũThanh LongChu TướcCâu Trần
CanhBạch HổHuyền VũThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng Xà
TânBạch HổHuyền VũThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng Xà
NhâmHuyền VũThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch Hổ
QuýHuyền VũThanh LongChu TướcCâu TrầnĐằng XàBạch Hổ

Cần lưu ý một chỗ mà các bản in không thống nhất: câu khởi cho hai can Mậu và Kỷ. Nhiều bản Tăng San Bốc Dịch chép "Mậu khởi Câu Trần, Kỷ khởi Đằng Xà" như bảng trên, nhưng cũng có bản chép ngược lại thành Mậu khởi Đằng Xà, Kỷ khởi Câu Trần. Sự lệch này ảnh hưởng trực tiếp tới vị trí Bạch Hổ và Huyền Vũ trong quẻ. Người học nên biết để đối chiếu khi gặp sách in khác, thay vì mặc nhiên coi bản mình đang dùng là chuẩn duy nhất.

Đằng Xà đậu trên hào mang sắc thái gì?

Đằng Xà là thần của sự quái dị, kinh sợ, vướng víu và mộng mị. Khi đậu trên một hào, nó không biến hào đó thành hung, mà làm cho sự việc ứng với hào ấy mang màu sắc kỳ quặc, khó lý giải, hoặc có yếu tố ám ảnh lặp đi lặp lại. Sách Lục Nhâm, quyển 1 chép Đằng Xà là đại hung tướng, thường gây binh đao, gió lửa, trộm cướp, bệnh tật, ôn dịch, sự kinh sợ; việc nó ứng thường có chỗ mờ ám, khuất tất, giấu diếm. Ở mặt khác, khi gặp thời vượng, Đằng Xà cũng ứng việc văn tự, tin tức, việc công, tiền tài nhỏ, danh dự không thật. Đây là mô tả của hệ Lục Nhâm, nhưng tinh thần thì tương thông với Lục Hào: Đằng Xà là thần của cái gì đó không minh bạch, không thẳng thắn, có phần quái lạ.

Trong Lục Hào, Đằng Xà đậu trên hào nào thì hào ấy thường được đọc kèm ý sợ hãi, lo lắng vô cớ, giấc mơ kỳ dị, chuyện vướng mắc dai dẳng, hoặc chuyện xảy ra theo cách không ai ngờ. Nếu Đằng Xà đậu trên hào Thế, người hỏi có thể đang trong trạng thái tinh thần bất an, sợ những thứ chưa xảy ra. Nếu đậu trên hào Dụng, sự việc hỏi có yếu tố quái dị hoặc có chỗ giấu giếm. Nhưng sắc thái này chỉ là lớp phủ: nếu Dụng Thần vượng tướng, được sinh phò, thì Đằng Xà chỉ làm cho câu chuyện có chút kỳ lạ, không đủ sức đảo ngược kết cục.

Bạch Hổ đậu trên hào có luôn là tang sự không?

Không. Đây là chỗ Tăng San Bốc Dịch phản bác lối đọc cứ thấy Bạch Hổ là gán tang tóc. Bạch Hổ mang sắc thái uy mạnh, quyền sát phạt, máu, thương tích, tang chế, nhưng khi đậu trên Dụng Thần thì nó lại là sức mạnh giúp việc thành. Tinh thần này cũng khớp với cảnh báo chung trong các thư tịch xưa về lục thú: chớ suy tôn lục thú, gặp nhiều cát thần thì tốt, gặp nhiều hung thần thì hung. Nói cách khác, Bạch Hổ tự nó không phán tang, nó chỉ đậm thêm tính quyết liệt cho hào mà nó đậu.

Trong hệ Lục Nhâm, Bạch Hổ được mô tả là hung tướng chuyên ứng việc tang thương, điều hung hại, thuộc dương kim, chuyên về quyền sát phạt, lại cũng ứng về thai nghén. Đối chiếu sang Lục Hào, ta thấy cách đọc tương tự: Bạch Hổ đậu trên hào Quan Quỷ có thể là chuyện căng thẳng, đối đầu, bị chèn ép, hoặc chuyện liên quan tới máu và thương tích. Nhưng nếu Bạch Hổ đậu trên hào Dụng Thần đang vượng, thì nó là uy lực: người hỏi có thể đang nắm thế mạnh, đang ở vị trí quyết định, hoặc sự việc sẽ được giải quyết dứt khoát. Ngược lại, Bạch Hổ mà khắc Dụng Thần, lại gặp các thần hung khác trợ lực, thì mới đáng lưu tâm.

Một điểm đáng chú ý: các bản Lục Hào còn dùng Bạch Hổ để đoán tính khí con người. Khi Bạch Hổ đậu trên hào Tử Tôn, người ta thường đọc là đứa trẻ ngang bướng, khó bảo, hoặc có hành động liều lĩnh, đòi hỏi người lớn phải uốn nắn khéo. Khi Bạch Hổ đậu trên hào Thế, có thể là tham vọng lớn, muốn vươn lên. Cách đọc này cho thấy Bạch Hổ không đồng nghĩa với chết chóc, mà là một phổ sắc thái từ uy quyền tới xung đột.

Huyền Vũ đậu trên hào có nghĩa là trộm cắp không?

Không hẳn. Huyền Vũ là thần của việc mờ ám, trộm cắp, tư tình, thất thoát, che giấu. Khi đậu trên một hào, nó báo rằng sự việc ứng với hào ấy có yếu tố không minh bạch: có thể là mất mát, có thể là chuyện riêng tư không muốn lộ, có thể là giao dịch thiếu sòng phẳng. Sách Lục Nhâm, quyển 1 ghi rằng Huyền Vũ thừa thần khắc Can là điều rất kỵ: điềm báo kẻ buôn bán hay kẻ gian đạo đang toan tính gây hại cho mình, đồng thời là dấu hiệu tiền của bị hao phá, dính dáng tới kiện tụng, sự trốn tránh cùng những thiếu sót. Thế nhưng cũng chính sách ấy ghi rằng nếu Huyền Vũ thừa thần sinh Can, dẫu có thừa ác sát thì trong cái hung vẫn thành tựu điều tốt lành và đỡ đi phần hung hại, ứng điềm mưu tính âm thầm việc tư riêng, cầu hoạch tài. Tức là Huyền Vũ không phải cái nhãn dán cố định.

Trong Lục Hào, Huyền Vũ đậu trên hào nào thì hào ấy có thể mang nghĩa mờ ám, thiếu minh bạch, hoặc liên quan tới chuyện riêng tư. Nếu Huyền Vũ đậu trên hào Huynh Đệ, người ta thường nghĩ tới chuyện hao tài, bị lợi dụng, hoặc có người trong nhóm thân cận đang tính toán điều không nói ra. Nếu đậu trên hào Thê Tài, có thể là chuyện tiền bạc không rõ ràng, hoặc chuyện tình cảm có yếu tố che giấu. Nếu đậu trên hào Quan Quỷ, cẩn thận với giấy tờ, hợp đồng, hoặc việc bị hiểu sai. Nhưng một lần nữa, sắc thái này chỉ có nghĩa khi đặt cạnh trạng thái của Dụng Thần.

Vì sao ba thần mang tiếng hung vẫn chỉ tô màu chứ không định cát hung?

Vì trong Lục Hào, cát hung do Dụng Thần và các thần sinh khắc quyết định, không do lục thú. Tăng San Bốc Dịch đặt lục thần ở chương 18, tức là sau khi đã dạy cách lấy Dụng Thần, xem nguyệt tướng, nhật thần, tuần không, nguyệt phá, sinh khắc xung hình. Các thư tịch xưa cũng nhắc nguyên tắc: lục thú ở Dụng Thần, chớ suy tôn lục thú, gặp nhiều cát thần thì tốt, gặp nhiều hung thần thì hung. Nghĩa là lục thú chỉ là một lớp thông tin phụ, giúp tinh chỉnh cách đọc.

Một cách so sánh dễ hình dung: Dụng Thần vượng suy giống như thời tiết, còn lục thú giống như màu trời. Trời âm u không có nghĩa là sẽ mưa, nhưng nếu mưa thì mưa trong khung cảnh âm u. Cũng vậy, Bạch Hổ đậu trên Dụng Thần vượng không làm việc hỏng, mà làm việc thành theo cách dứt khoát, có phần căng thẳng. Huyền Vũ đậu trên Dụng Thần vượng không tự động nghĩa là mất của, mà có thể là việc đạt được qua đường không công khai, hoặc có yếu tố riêng tư. Đằng Xà đậu trên Dụng Thần vượng không tự động nghĩa là tai họa, mà là câu chuyện có phần kỳ lạ, khó giải thích theo lẽ thường.

Các phái khác nhau ở chỗ nào?

Có ít nhất ba điểm bất đồng đáng lưu ý. Thứ nhất, Tăng San Bốc Dịch phản bác lối đọc Bạch Hổ luôn là tang, trong khi một số sách và một số thầy vẫn giữ cách đọc cũ, hễ thấy Bạch Hổ là nghĩ tới tang tóc, hiếu phục, thương vong. Hai cách đọc này cùng tồn tại, người học nên biết cả hai và tùy ngữ cảnh mà cân nhắc.

Thứ hai, câu khởi cho hai can Mậu và Kỷ có bản ghi khác nhau như đã nêu ở phần bảng. Bản chép Mậu khởi Câu Trần, Kỷ khởi Đằng Xà là phổ biến, nhưng bản chép ngược lại vẫn lưu hành. Đây là chỗ cần đối chiếu khi so quẻ giữa các phần mềm hoặc giữa các thầy.

Thứ ba, tên gọi trùng nhau nhưng khác hệ. Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ trong Lục Hào khác với thiên tướng Lục Nhâm, và khác với tứ linh phong thủy. Trong Lục Nhâm, chúng có bản vị, ngũ hành, phương vị, mùa vượng riêng, và có những cách cục như Đằng Xà đương ngọa, Đằng Xà giao chiến, Huyền Vũ hoành tuyệt. Trong phong thủy loan đầu, chúng là thế đất quanh huyệt, ví dụ Bạch Hổ nên tĩnh không nên động, Huyền Vũ nên cúi đầu, Huyền Vũ cao mà Chu Tước thấp thì bất lợi. Không nên lấy nghĩa của hệ này áp thẳng sang hệ kia.

Một ví dụ minh họa cách đọc

Giả sử lập một quẻ Lục Hào cho câu hỏi về một giao dịch làm ăn, được quẻ với can ngày Canh, hào Thê Tài ở hào tứ, hào Thế ở hào nhị. Theo bảng khởi lục thú, can Canh khởi Bạch Hổ ở hào sơ, vậy hào nhị là Huyền Vũ, hào tam là Thanh Long, hào tứ là Chu Tước, hào ngũ là Câu Trần, hào thượng là Đằng Xà. Trong trường hợp này, hào Thế ở hào nhị đậu Huyền Vũ, hào Thê Tài ở hào tứ đậu Chu Tước.

Cách đọc sẽ là: Huyền Vũ đậu trên hào Thế cho thấy người hỏi đang có điều gì đó không nói ra, hoặc đang cân nhắc đường đi không công khai. Chu Tước đậu trên hào Thê Tài gợi tới chuyện giấy tờ, lời ăn tiếng nói, hoặc tin tức liên quan tới tiền. Nhưng cát hung của giao dịch vẫn phải xét theo Dụng Thần là hào Thê Tài: nếu Thê Tài vượng tướng, được sinh phò, thì hai sắc thái trên chỉ là chi tiết phụ, có thể là giao dịch được đàm phán kín đáo và cần cẩn thận lời nói. Nếu Thê Tài suy nhược, bị khắc, thì Huyền Vũ và Chu Tước mới đáng lo hơn, gợi tới khả năng bị lừa qua lời nói hoặc mất tiền qua đường không rõ ràng. Lưu ý rằng quẻ ví dụ ở đây được lập minh họa theo quy tắc khởi lục thú, không chép từ bất kỳ nguồn nào.

Kết luận cần nhớ

Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ là ba thần mang tiếng hung, nhưng trong Lục Hào chúng chỉ tô màu cho hào, không tự định cát hung. Cát hung do Dụng Thần và các thần sinh khắc quyết định. Cách khởi lục thú theo can ngày là cố định: Giáp Ất khởi Thanh Long, Bính Đinh khởi Chu Tước, Mậu khởi Câu Trần, Kỷ khởi Đằng Xà, Canh Tân khởi Bạch Hổ, Nhâm Quý khởi Huyền Vũ, an từ hào sơ lên. Có chỗ các phái bất đồng về hai can Mậu Kỷ và về cách đọc Bạch Hổ, nên người học nên biết cả hai chiều thay vì áp đặt một lối duy nhất.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ khởi theo can ngày như thế nào?

Theo Tăng San Bốc Dịch chương 18: Giáp Ất khởi Thanh Long, Bính Đinh khởi Chu Tước, Mậu khởi Câu Trần, Kỷ khởi Đằng Xà, Canh Tân khởi Bạch Hổ, Nhâm Quý khởi Huyền Vũ. Thần khởi được an vào hào sơ, rồi theo thứ tự Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ mà đi lên hào nhị, tam, tứ, ngũ, thượng.

Bạch Hổ đậu trên hào có luôn là tang sự không?

Không. Tăng San Bốc Dịch phản bác lối đọc cứ thấy Bạch Hổ là gán tang tóc. Bạch Hổ mang sắc thái uy mạnh, quyền sát phạt, máu, thương tích, tang chế, nhưng khi đậu trên Dụng Thần vượng thì lại là sức mạnh giúp việc thành. Cát hung vẫn do Dụng Thần và các thần sinh khắc quyết định.

Vì sao ba thần này chỉ tô màu cho hào chứ không tự định cát hung?

Vì trong Lục Hào, cát hung do Dụng Thần và các thần sinh khắc quyết định, lục thú chỉ là lớp thông tin phụ. Tăng San Bốc Dịch đặt lục thần ở chương 18, sau khi đã dạy lấy Dụng Thần, xem nguyệt tướng, nhật thần, tuần không, nguyệt phá. Các thư tịch xưa cũng nhắc nguyên tắc chớ suy tôn lục thú.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. SÁCH TĂNG SAN BỐC DỊCH. Dã Hạc lão nhân
  2. Tăng bổ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG
  3. Lục Nhâm, quyển 1: Nhập môn
  4. Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt
#KinhDịch#LụcHào#LụcThú#ĐằngXà#BạchHổ#HuyềnVũ#TăngSanBốcDịch#BốcPhệChínhTông