Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Giải mã quẻ Địa Sơn Khiêm trong Kinh Dịch: Cấu trúc và bài học

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Kinh Dịch

TL;DR: Quẻ Địa Sơn Khiêm (謙) là quẻ thứ 15 theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên là Khôn (Đất), quẻ dưới là Cấn (Núi). Quái từ chép: "Khiêm: hanh, quân tử hữu chung", tức hanh thông và người quân tử có kết cục tốt. Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc quẻ này như một cách nhìn về vị trí và phần của mình, không phải lời hứa về thành công hay tài lộc.

Quẻ Địa Sơn Khiêm là quẻ thứ mấy, cấu trúc ra sao?

Quẻ Địa Sơn Khiêm (謙) là quẻ thứ 15 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên là Khôn (Đất), quẻ dưới là Cấn (Núi). Tên chữ Hán là 謙, ký hiệu ䷎, tên tiếng Anh thường dịch là Modesty. Đây là một trong những quẻ được đọc nhiều về mặt đạo đức và triết lý sống.

Kinh Dịch không chỉ được dùng để bói mà còn được đọc như một sách triết lý phương Đông, phản ánh vũ trụ quan và nhân sinh quan. Quẻ Khiêm là một ví dụ điển hình cho triết lý đó: nó không hứa hẹn sự giàu sang hay quyền lực tuyệt đối, mà chỉ ra con đường an toàn và bền vững nhất trong nhiều hoàn cảnh.

Nội quái Cấn và ngoại quái Khôn có ý nghĩa gì?

Quẻ Địa Sơn Khiêm có nội quái là Cấn (Núi), tượng trưng cho sự tĩnh tại, vững chãi, và ngoại quái là Khôn (Địa), tượng trưng cho sự thuận theo, bao dung và nuôi dưỡng. Hình ảnh ngọn núi nằm dưới mặt đất là một ẩn dụ mạnh mẽ: dù có chiều cao, có giá trị, vẫn tự đặt mình thấp hơn, ẩn mình dưới lòng đất. Điều này gợi ý rằng người quân tử nên có tài năng, phẩm chất tốt nhưng không phô trương, luôn giữ thái độ khiêm tốn.

Lời gốc của quẻ Địa Sơn Khiêm chép thế nào?

Dưới đây là lời kinh chép theo bản chữ Hán phồn thể lưu trên Wikisource, kèm âm Hán Việt đọc theo đúng chữ Hán ấy và dịch nghĩa sát.

Quái từ:

謙:亨,君子有終。

Âm Hán Việt: Khiêm: hanh, quân tử hữu chung.

Dịch nghĩa: Khiêm: hanh thông, người quân tử có kết cục tốt.

Hào từ:

  • 初六:謙謙君子,用涉大川,吉。

Âm Hán Việt: Sơ lục: Khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát. Dịch nghĩa: Hào Sơ lục: người quân tử khiêm lại càng khiêm, dùng để vượt sông lớn, tốt lành.

  • 六二:鳴謙,貞吉。

Âm Hán Việt: Lục nhị: Minh khiêm, trinh cát. Dịch nghĩa: Hào Lục nhị: tiếng khiêm vang ra, giữ chính bền thì tốt lành.

  • 九三:勞謙君子,有終吉。

Âm Hán Việt: Cửu tam: Lao khiêm quân tử, hữu chung cát. Dịch nghĩa: Hào Cửu tam: người quân tử khiêm nhường sau khi lao nhọc, có kết cục tốt lành.

  • 六四:无不利,撝謙。

Âm Hán Việt: Lục tứ: Vô bất lợi, huy khiêm. Dịch nghĩa: Hào Lục tứ: không gì là không lợi, khiêm nhường theo lẽ phải.

  • 六五:不富,以其鄰,利用侵伐,无不利。

Âm Hán Việt: Lục ngũ: Bất phú, dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt, vô bất lợi. Dịch nghĩa: Hào Lục ngũ: không giàu, dùng láng giềng của mình, lợi về việc đánh dẹp, không gì là không lợi.

  • 上六:鳴謙,利用行師,征邑國。

Âm Hán Việt: Thượng lục: Minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc. Dịch nghĩa: Hào Thượng lục: tiếng khiêm vang ra, lợi về việc dùng quân, đánh dẹp ấp quốc của mình.

Thoán truyện (thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN, không coi là đã chứng minh quy tác giả):

謙,亨,天道下濟而光明,地道卑而上行。天道虧盈而益謙,地道變盈而流謙,鬼神害盈而福謙,人道惡盈而好謙。謙尊而光,卑而不可逾,君子之終也。

Dịch nghĩa: Khiêm, hanh thông: đạo trời giáng xuống cứu giúp mà sáng tỏ, đạo đất thấp mà đi lên. Đạo trời làm tổn kẻ đầy mà thêm cho kẻ khiêm; đạo đất biến đổi kẻ đầy mà chảy về kẻ khiêm; quỷ thần hại kẻ đầy mà phù hộ kẻ khiêm; đạo người ghét kẻ đầy mà ưa kẻ khiêm. Khiêm thì tôn quý mà sáng, thấp mà không thể vượt qua, ấy là kết cục của người quân tử.

Đại Tượng (Tượng truyện) (cũng thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN):

地中有山,謙;君子以裒多益寡,稱物平施。

Dịch nghĩa: Trong đất có núi, ấy là Khiêm; người quân tử theo đó mà bớt chỗ nhiều thêm chỗ ít, cân nhắc sự vật mà ban phát cho đều.

Tiểu Tượng (cũng thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN):

  • 謙謙君子,卑以自牧也。 (cho hào Sơ lục)
  • 鳴謙貞吉,中心得也。 (cho hào Lục nhị)
  • 勞謙君子,萬民服也。 (cho hào Cửu tam)
  • 无不利撝謙;不違則也。 (cho hào Lục tứ)
  • 利用侵伐,征不服也。 (cho hào Lục ngũ)
  • 鳴謙,志未得也。可用行師,征邑國也。 (cho hào Thượng lục)

Dịch nghĩa:

  • Người quân tử khiêm lại càng khiêm, ấy là lấy thấp mà tự chăn dắt mình.
  • Tiếng khiêm mà chính bền tốt lành, ấy là đắc ở trong lòng.
  • Người quân tử khiêm nhường sau khi lao nhọc, muôn dân phục theo.
  • Không gì là không lợi, khiêm nhường theo lẽ phải; ấy là không trái phép tắc.
  • Lợi về việc đánh dẹp, ấy là đánh kẻ không phục.
  • Tiếng khiêm, ấy là chí chưa đắc. Có thể dùng quân, đánh dẹp ấp quốc của mình.

Các nhà chú giải đời trước chú quẻ Khiêm thế nào?

Dưới đây dẫn lời chú của Vương Bật và Chu Hy có trong bản lưu trên Wikisource, dịch sát ý.

Vương Bật chú

  • Trên quái từ và hào Sơ lục: "處謙之下,謙之謙者也。能體『謙謙』,其唯君子。用涉大難,物無害也。" Dịch: Ở dưới chỗ khiêm, ấy là khiêm trong bậc khiêm. Có thể thể hiện được "khiêm khiêm", chỉ có người quân tử. Dùng để vượt qua gian nan lớn, sự vật không làm hại được.
  • Trên hào Lục nhị: "鳴者,聲名聞之謂也。得位居中,謙而正焉。" Dịch: Minh là nói về tiếng tăm được nghe biết. Được ngôi đúng vị, ở giữa, khiêm mà chính.
  • Trên hào Cửu tam: "處下體之極,履得其位,上下無陽以分其民,眾陰所宗,尊莫先焉。居謙之世,何可安尊?上承下接,勞謙匪解,是以吉也。" Dịch: Ở cuối hạ thể, đạp được đúng ngôi, trên dưới không có hào dương nào chia dân với mình, là chỗ muôn hào âm tôn thờ, không ai tôn quý hơn. Ở thời Khiêm, sao có thể yên hưởng ngôi tôn? Trên thì thừa tiếp, dưới thì giao tiếp, lao nhọc mà khiêm không lơi, cho nên tốt lành.
  • Trên hào Lục tứ: "處三之上,而用謙焉,則是自上下下之義也。承五而用謙順,則是上行之道也。盡乎奉上下下之道,故『無不利』。指撝皆謙,不違則也。" Dịch: Ở trên hào ba mà dùng khiêm, ấy là nghĩa từ trên xuống dưới. Thừa tiếp hào năm mà dùng khiêm thuận, ấy là đạo đi lên. Hết đạo thờ trên nhường dưới, cho nên "không gì không lợi". Chỉ huy, vẫy gọi đều khiêm, không trái phép tắc.
  • Trên hào Lục ngũ: "居於尊位,用謙與順,故能不富而用其鄰也。以謙順而侵伐,所伐皆驕逆也。" Dịch: Ở ngôi tôn, dùng khiêm và thuận, cho nên có thể không giàu mà dùng được láng giềng của mình. Lấy khiêm thuận mà đánh dẹp, điều đánh đều là kẻ kiêu ngạo làm nghịch.
  • Trên hào Thượng lục: "最處於外,不與內政,故有名而巳,志功未得也。處外而履謙順,可以邑一國而巳。" Dịch: Ở ngoài cùng, không dự vào chính sự bên trong, cho nên chỉ có danh thôi, chí và công chưa đắc. Ở ngoài mà giữ khiêm thuận, có thể làm ấp cho một nước mà thôi.

Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú

  • Trên quái từ "謙亨君子有終": "謙者有而不居之義止乎内而順乎外謙之意也山至髙而地至卑乃屈而止於其下謙之象也占者如是則亨通而有終矣有終謂先屈而後伸也" Dịch: Khiêm là nghĩa có mà không ở lại giữ; dừng ở trong mà thuận ở ngoài, ấy là ý của khiêm; núi rất cao mà đất rất thấp, bèn khuất mà dừng ở dưới nó, ấy là tượng của khiêm. Người chiếm được như thế thì hanh thông mà có kết cục tốt. Có kết cục là nói trước khuất rồi sau duỗi.
  • Trên hào Sơ lục: "以柔處下謙之至也君子之行也以此涉難何往不濟故占者如是則利以涉川也" Dịch: Lấy nhu ở dưới, ấy là khiêm đến cùng. Hạnh của người quân tử là thế; lấy đó mà vượt gian nan, đi đâu chẳng thành? Cho nên người chiếm được như thế thì lợi về việc vượt sông.
  • Trên hào Lục nhị: "柔順中正以謙有聞正而且吉者也故其占如此" Dịch: Nhu thuận, trung chính, lấy khiêm mà có tiếng, chính và tốt lành; cho nên lời chiếm như thế.
  • Trên hào Cửu tam: "卦唯一陽居下之上剛而得正上下所歸有功勞而能謙尤人所難故有終而吉占者如是則如其應矣" Dịch: Quẻ chỉ có một hào dương, ở trên hạ thể, cương mà được chính, trên dưới đều quy về; có công lao mà biết khiêm, càng là điều khó ở người, cho nên có kết cục tốt lành. Người chiếm được như thế thì ứng với điều ấy.
  • Trên hào Lục tứ: "撝呼囘反與揮同○柔而得正上而能下其占无不利矣然居九三之上故戒以更當[...]" Dịch: Huy đọc là hô hồi phản, cùng nghĩa với "huy". Nhu mà được chính, ở trên mà có thể xuống dưới, lời chiếm của nó không gì là không lợi. Nhưng ở trên hào Cửu tam, cho nên răn rằng lại càng phải [...] (bản Tứ khố để khuyết một chữ).
  • Trên hào Lục ngũ: "以柔居尊在上而能謙者也故為不富而能以其鄰之象蓋從之者衆矣猶有未服者則利以征之而於他事亦无不利人有是德則如其占也" Dịch: Lấy nhu ở ngôi tôn, ở trên mà có thể khiêm, cho nên là tượng không giàu mà có thể dùng láng giềng của mình; bởi theo về thì đông, còn có kẻ chưa phục thì lợi về việc đánh dẹp, mà với việc khác cũng không gì là không lợi. Người có đức ấy thì như lời chiếm của nó.
  • Trên hào Thượng lục: "謙極有聞人之所與故可用行師然以其質柔而无位故可以征已之邑國而已" Dịch: Khiêm đến cùng mà có tiếng, người ta theo về, cho nên có thể dùng quân; nhưng vì chất nhu mà không có ngôi, cho nên có thể đánh dẹp ấp quốc của mình mà thôi.

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Địa Sơn Khiêm gợi mở điều gì?

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Khiêm không phải là một lời hứa về thành công, mà là một cách đọc về vị trí của mình giữa người và việc. Hình ảnh núi nằm trong lòng đất gợi rằng giá trị thật không cần phô ra mới được nhìn nhận. Sự khiêm ở đây không phải là tự hạ thấp bản thân, mà là không cần khoe, không giành phần hơn về mình.

Điểm đáng chú ý trong lời kinh là sáu hào đều không có lời xấu, dù mức độ tốt khác nhau. Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, đó là một cách nói rằng thái độ khiêm nhường ít khi tạo ra chướng ngại cho chính mình. Nhưng cũng cần đọc kèm các hào Lục ngũ và Thượng lục, nơi lời gốc có nói tới việc dùng quân, đánh dẹp; các hào ấy mang bối cảnh chính trị và quân sự thời cổ, không nên chuyển thẳng thành lời khuyên cho đời sống hôm nay.

Các hào từ có nói tới vua tôi, tới việc láng giềng, tới việc chinh phạt, đều thuộc bối cảnh xã hội và chính trị thời xưa. Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, đọc chúng nên đọc như tư liệu lịch sử về cách người xưa hình dung quan hệ trên dưới, không nên biến thành chuẩn mực áp cho gia đình hay công việc ngày nay.

Gặp quẻ Địa Sơn Khiêm khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?

Không có câu nào trong lời gốc của quẻ nói về công việc hiện đại. Nếu hỏi việc làm mà gặp quẻ Khiêm, điều có thể rút ra là đọc lại vị trí của mình trong tập thể: mình đang ở đâu, đóng góp gì, có cần phô ra không. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi đang ở giai đoạn mới vào việc hoặc mới nhận vị trí, hãy dành thời gian quan sát và học việc trước khi lên tiếng nhiều; ghi nhận đóng góp của người khác trong trao đổi chung.

Hào Cửu tam là hào duy nhất dương trong quẻ, lời gốc chép "勞謙君子,有終吉", Vương Bật chú rằng ở cuối hạ thể, trên dưới không có hào dương nào chia dân với mình, cho nên phải lao nhọc mà khiêm không lơi. Đây là một cách nói về người có công mà vẫn giữ được sự nhún. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi đã có kết quả công việc cụ thể, hãy để kết quả tự nói, hạn chế nhắc lại công của mình trong các cuộc trao đổi không cần thiết.

Gặp quẻ Địa Sơn Khiêm khi hỏi tình cảm thì nên hiểu thế nào?

Lời gốc của quẻ không nói về tình cảm nam nữ. Các hào từ có nhắc tới quan hệ trên dưới, tới láng giềng, tới việc chinh phạt, đều là bối cảnh xã hội thời xưa, không nên đọc thành lời khuyên cho chuyện tình cảm hôm nay. Gợi ý của Nhật Nguyệt: trong quan hệ gần gũi, sự khiêm ở đây có thể hiểu là bớt tranh phần đúng về mình, chịu lắng nghe trước khi phản hồi.

Nếu đang ở giai đoạn tìm hiểu, hào Lục nhị với lời "鳴謙,貞吉" và Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú rằng nhu thuận trung chính, lấy khiêm mà có tiếng, có thể gợi một hướng: giữ sự chân thành và nhất quán, không cần gây ấn tượng bằng cách nói quá về mình. Gợi ý của Nhật Nguyệt: đặt nhịp độ vừa phải, để thời gian cho cả hai bên hiểu nhau.

Gặp quẻ Địa Sơn Khiêm khi hỏi tiền bạc thì nên hiểu thế nào?

Lời gốc của quẻ không nói về tiền bạc. Hào Lục ngũ có chép "不富,以其鄰", Vương Bật chú rằng ở ngôi tôn mà dùng khiêm thuận, cho nên có thể không giàu mà dùng được láng giềng. Đây là một câu trong bối cảnh chính trị cổ, nói về quan hệ với người bên cạnh hơn là về tài chính cá nhân. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi bàn chuyện tiền bạc chung, hãy nói rõ phần của mình và phần của người khác, tránh nhận phần hơn khi chưa cần.

Không nên đọc quẻ Khiêm như một lời hứa về tài lộc hay như một chỉ dẫn đầu tư. Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, giá trị của quẻ nằm ở thái độ đối với vị trí và phần của mình, không nằm ở dự báo kết quả tài chính.

Gặp quẻ Địa Sơn Khiêm khi hỏi sức khỏe thì nên hiểu thế nào?

Lời gốc của quẻ không nói về sức khỏe. Hào Sơ lục có chép "用涉大川", Vương Bật chú rằng dùng để vượt qua gian nan lớn, sự vật không làm hại được; đây là một cách nói trong bối cảnh vượt khó, không phải một chỉ dẫn y tế. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu đang trong giai đoạn mệt mỏi, hãy sắp việc theo thứ tự, bớt nhận thêm phần không cần thiết, và hỏi ý kiến người có chuyên môn khi có vấn đề sức khỏe cụ thể.

Gặp quẻ Địa Sơn Khiêm khi ở vị trí lãnh đạo thì nên hiểu thế nào?

Lời gốc của quẻ không nói trực tiếp về lãnh đạo hiện đại. Hào Lục ngũ với lời "不富,以其鄰,利用侵伐,无不利" và Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú rằng ở ngôi tôn mà có thể khiêm, theo về thì đông, còn kẻ chưa phục thì lợi về việc đánh dẹp, là một đoạn trong bối cảnh chính trị cổ. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi giữ vai trò phụ trách, hãy dành thời gian lắng nghe trước khi quyết, ghi nhận đóng góp của người dưới, và chỉ dùng biện pháp cứng rắn khi đã thử các cách khác.

Hào Thượng lục với lời "鳴謙,利用行師,征邑國" và Vương Bật chú rằng ở ngoài cùng, không dự vào chính sự bên trong, cho nên chỉ có danh thôi, là một gợi ý về giới hạn của người ở vị trí ngoài rìa. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu không nắm việc bên trong, hãy giới hạn phạm vi can dự cho đúng phần mình phụ trách.

Bảng tra cứu nhanh: quẻ Địa Sơn Khiêm

Khía cạnhNội dung
Số thứ tự trong 64 quẻ15
Tên chữ Hán謙
Ký hiệu䷎
Tên tiếng AnhModesty
Quẻ thượng (ngoại quái)Khôn (Đất), hành Thổ, phương Tây Nam
Quẻ hạ (nội quái)Cấn (Núi), hành Thổ, phương Đông Bắc
Sáu hào, hào sơ ở dướisơ âm, nhị âm, tam dương, tứ âm, ngũ âm, thượng âm
TượngNúi nằm trong lòng đất, cao mà không phô ra.
Luận giảiTượng cho sự nhún nhường có thực chất bên trong. Người xưa xem khiêm là đức hiếm khi gây tổn hại cho ai. Ở đây khiêm không phải hạ thấp mình mà là không cần khoe.

Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.

Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.
Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.

Bài tổng quan chủ đề: Kinh Dịch là gì và cách tra 64 quẻ

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Địa Sơn Khiêm có ý nghĩa gì trong Kinh Dịch?

Quẻ Địa Sơn Khiêm tượng trưng cho sự khiêm nhường, hạ mình. Đây là một trong những quẻ tốt nhất, với cả sáu hào đều cát, cho thấy khiêm tốn giúp tránh tai họa và đạt thành công bền vững.

Tại sao quẻ Khiêm được coi là quẻ tốt nhất trong 64 quẻ?

Không giống các quẻ khác có hào tốt xấu xen kẽ, quẻ Khiêm có tất cả sáu hào đều tốt. Điều này phản ánh nguyên lý: khiêm nhường là đức tính an toàn tuyệt đối, không gây đố kỵ hay xung đột, nên mọi hành động đều dẫn đến kết quả tốt.

Bài học thực tiễn từ quẻ Địa Sơn Khiêm là gì?

Bài học lớn nhất là hãy giữ thái độ khiêm tốn dù có tài năng hay thành công. Trong công việc và cuộc sống, người biết hạ mình, lắng nghe, không khoe khoang sẽ được mọi người quý trọng và đạt được sự bền vững, tránh được rủi ro từ lòng kiêu ngạo.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Đọc tiếp

64 quẻ · Quẻ Địa Sơn Khiêm

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải), Kinh Dịch
  2. Richard Wilhelm và Cary F. Baynes (dịch), I Ching or Book of Changes, Princeton University Press (1950)
  3. Chu Dịch, quẻ Địa Sơn Khiêm (謙), kèm Thoán truyện và Tượng truyện, bản chữ Hán Wikisource
  4. Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ, Chu Dịch chính nghĩa, quẻ 謙 (bản Wikisource)
  5. Chu Hy, Chu Dịch bản nghĩa (bản Tứ khố toàn thư, Wikisource)
#KinhDịch#ĐịaSơnKhiêm#QuẻKhiêm#TriếtLýPhươngĐông#KhiêmNhường