
TL;DR: Quẻ Lôi Địa Dự (豫) là quẻ thứ 16 theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên là Chấn (Sấm), quẻ dưới là Khôn (Đất); quái từ chép "豫:利建侯行師". Lời kinh, Thoán truyện và Tượng truyện là các tầng khác nhau, còn Vương Bật và Chu Hy có lời chú riêng cho từng hào. Gợi ý của Nhật Nguyệt: hãy giữ hứng khởi trong khuôn phép và kiểm lại nền tảng trước khi hành động.
Quẻ Lôi Địa Dự là quẻ thứ mấy, cấu tạo ra sao?
Quẻ Lôi Địa Dự (豫) là quẻ thứ 16 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm quẻ trên là Chấn (Sấm) và quẻ dưới là Khôn (Đất). Tên quẻ 豫 vừa mang nghĩa vui vẻ, hòa lạc, vừa gợi sự chuẩn bị (dự bị).
Bảng dưới đây tóm cấu trúc và các thông tin tra cứu nhanh, khớp với kết quả công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 16 |
| Tên chữ Hán | 豫 |
| Ký hiệu | ䷏ |
| Tên tiếng Anh | Enthusiasm |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Chấn (Sấm), hành Mộc, phương Đông |
| Quẻ hạ (nội quái) | Khôn (Đất), hành Thổ, phương Tây Nam |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ âm, nhị âm, tam âm, tứ dương, ngũ âm, thượng âm |
| Tượng | Sấm dậy trên đất, khí động mà lòng người hưởng ứng. |
| Luận giải | Nói về sự hào hứng và việc chuẩn bị trước khi thời tới. Điều được nhắc là giữ hứng khởi trong khuôn phép. Vui quá đà thì dễ mất phần tỉnh táo. |

Lời gốc của quẻ Lôi Địa Dự chép những gì?
Dưới đây là lời kinh theo bản chữ Hán phổ biến trên Wikisource, kèm âm Hán Việt đọc theo đúng chữ Hán ấy và dịch nghĩa sát.
Quái từ:
豫:利建侯行師。
Dự: lợi kiến hầu hành sư. (Dự: lợi về việc lập hầu, dấy binh.)
Hào từ:
- 初六:鳴豫,凶。Sơ lục: minh dự, hung. (Hào Sơ lục: khoe khoang niềm vui, hung.)
- 六二:介于石,不終日,貞吉。Lục nhị: giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát. (Hào Lục nhị: rắn như đá, không đợi hết ngày, trinh thì tốt.)
- 六三:盱豫,悔。遲有悔。Lục tam: hu dự, hối. Trì hữu hối. (Hào Lục tam: ngước nhìn mà vui, hối. Chậm thì có hối.)
- 九四:由豫,大有得。勿疑。朋盍戠。Cửu tứ: do dự, đại hữu đắc. Vật nghi. Bằng hạp trâm. (Hào Cửu tứ: do nơi đây mà vui, được lớn. Chớ nghi. Bạn bè hợp lại như trâm cài.)
- 六五:貞疾,恆不死。Lục ngũ: trinh tật, hằng bất tử. (Hào Lục ngũ: bệnh cố chấp, mãi không chết.)
- 上六:冥豫,成有渝,无咎。Thượng lục: minh dự, thành hữu du, vô cữu. (Hào Thượng lục: vui tối tăm, việc đã thành mà có thay đổi, không lỗi.)
Truyện (thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN):
Thoán truyện: 豫,剛應而志行,順以動,豫。豫,順以動,故天地如之,而況建侯行師乎?天地以順動,故日月不過,而四時不忒;聖人以順動,則刑罰清而民服。豫之時義大矣哉!
Dịch sát: Dự, cương ứng mà chí được thi hành, thuận mà động, nên gọi là Dự. Dự, thuận mà động, cho nên trời đất cũng như vậy, huống chi việc lập hầu dấy binh? Trời đất thuận mà động, nên mặt trời mặt trăng không vượt quá, bốn mùa không sai. Thánh nhân thuận mà động, thì hình phạt trong sạch mà dân phục. Nghĩa thời của Dự lớn thay!
Đại Tượng (Tượng truyện): 雷出地奮,豫。先王以作樂崇德,殷薦之上帝,以配祖考。
Dịch sát: Sấm ra khỏi đất mà phấn khởi, là Dự. Tiên vương nhân đó làm nhạc để tôn cao đức, dâng lên thượng đế một cách long trọng, để phối với tổ tiên.
Tiểu Tượng:
- 初六鳴豫,志窮凶也。Sơ lục minh dự, chí cùng hung dã. (Hào Sơ lục khoe khoang niềm vui, chí cùng nên hung.)
- 不終日,貞吉;以中正也。Bất chung nhật, trinh cát; dĩ trung chính dã. (Không đợi hết ngày, trinh thì tốt; vì trung chính vậy.)
- 盱豫有悔,位不當也。Hu dự hữu hối, vị bất đương dã. (Ngước nhìn mà vui nên có hối, vì ngôi không xứng.)
- 由豫,大有得;志大行也。Do dự, đại hữu đắc; chí đại hành dã. (Do nơi đây mà vui, được lớn; chí được thi hành lớn vậy.)
- 六五貞疾,乘剛也。恆不死,中未亡也。Lục ngũ trinh tật, thừa cương dã. Hằng bất tử, trung vị vong dã. (Hào Lục ngũ bệnh cố chấp, vì ngồi trên cương. Mãi không chết, vì trung chưa mất vậy.)
- 冥豫在上,何可長也。Minh dự tại thượng, hà khả trường dã. (Vui tối tăm ở trên, sao có thể lâu dài.)
Vương Bật và Chu Hy chú giải quẻ Dự thế nào?
Dưới đây là lời chú của hai nhà, dịch sát ý, ghi rõ tên người chú.
Vương Bật chú:
- Trên hào Sơ lục: 處豫之初,而特得志於上,樂過則淫,志窮則凶,豫何可鳴? (Ở đầu thời Dự mà riêng được chí với bậc trên, vui quá thì dâm, chí cùng thì hung, Dự sao có thể khoe khoang?)
- Trên hào Lục nhị: 處豫之時,得位履中,安夫貞正,不求苟豫者也。順不苟從,豫不違中,是以上交不諂,下交不瀆。明禍福之所生,故不苟說;辯必然之理,故不改其操介如石焉。不終日明矣。 (Ở thời Dự, được ngôi mà đứng vào bậc trung, an với đạo chính, không cầu sự vui cẩu thả. Thuận mà không theo cẩu thả, vui mà không trái trung, cho nên giao với trên không nịnh, giao với dưới không nhờn. Hiểu rõ chỗ sinh ra họa phúc nên không vui cẩu thả; phân biệt lẽ tất nhiên nên không đổi chí, rắn như đá. Không đợi hết ngày là rõ vậy.)
- Trên hào Lục tam: 居下體之極,處兩卦之際,履非其位,承動豫之主。若其睢盱而豫,悔亦生焉。遲而不從,豫之所疾,位非所據,而以從豫進退,離悔宜其然矣。 (Ở cực của hạ thể, chỗ giáp hai quẻ, đạp ngôi không phải của mình, hứng chịu chủ của động Dự. Nếu ngước nhìn mà vui thì hối cũng sinh. Chậm mà không theo, đó là điều Dự ghét, ngôi không phải chỗ mình nắm mà lại theo Dự để tiến thoái, phải lìa hối là đương nhiên vậy.)
- Trên hào Cửu tứ: 處豫之時,居動之始,獨體陽爻,眾陰所從,莫不由之以得其豫,故曰由豫,大有得也。夫不信於物,物亦疑焉,故勿疑則朋合疾也。盍,合也。簪,疾也。 (Ở thời Dự, đứng đầu động, riêng mình là hào dương, mọi âm đều theo, không ai không do nó mà được vui, cho nên nói do Dự mà được lớn. Không tin vào vật thì vật cũng nghi, cho nên chớ nghi thì bạn hợp lại nhanh. Hạp là hợp. Trâm là nhanh.)
- Trên hào Lục ngũ: 四以剛動為豫之主,專權執制,非巳所乘,故不敢與四爭權,而又居中處尊,未可得亡,是以必常至於貞疾,恆不死而巳。 (Hào bốn lấy cương động làm chủ của Dự, chuyên quyền nắm chế, không phải ngôi mình ngồi trên, cho nên không dám tranh quyền với bốn, mà lại ở giữa ngôi tôn, chưa thể mất được, vì vậy ắt thường đến mức bệnh cố chấp, mãi không chết mà thôi.)
- Trên hào Thượng lục: 處動豫之極,極豫盡樂,故至於冥豫成也。過豫不巳,何可長乎?故必渝變然後無咎。 (Ở cực của động Dự, vui hết mức, cho nên đến mức vui tối tăm đã thành. Vui quá mà không thôi, sao có thể lâu? Cho nên ắt phải thay đổi rồi mới không lỗi.)
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú:
- Trên quái từ: 豫和樂也人心和樂以應其上也九四一陽上下應之其志得行又以坤遇震為順以動故其卦為豫而其占利以立君用師也 (Dự là hòa lạc, lòng người hòa lạc để ứng với bậc trên. Hào Cửu tứ một dương, trên dưới ứng với nó, chí nó được thi hành. Lại lấy Khôn gặp Chấn là thuận mà động, cho nên quẻ ấy là Dự, mà lời chiêm của nó lợi về việc lập vua dùng quân.)
- Trên hào Sơ lục: 隂柔小人上有强援得時主事故不勝其豫而以自鳴凶之道也故其占如此卦之得名本為和樂然卦辭為衆樂之義爻辭除九四與卦同外皆為自樂所以有吉凶之異 (Âm nhu tiểu nhân, trên có chỗ dựa mạnh, gặp thời làm chủ sự, cho nên không thắng được niềm vui mà tự khoe, đó là đạo hung. Cho nên lời chiêm như vậy. Quẻ được đặt tên vốn là vì hòa lạc, nhưng quái từ là nghĩa vui chung, hào từ trừ Cửu tứ cùng quẻ ra thì đều là tự vui, cho nên có khác nhau về cát hung.)
- Trên hào Lục nhị: 豫雖主樂然易以溺人溺則反而憂矣卦獨此爻中而得正是上下皆溺於豫而獨能以中正自守其介如石也其徳安靜而堅確故其思慮明審不俟終日而見凡事之幾微也大學曰安而后能慮慮而后能得意正如此占者如是則正而吉矣 (Dự tuy chủ về vui, nhưng dễ làm chìm người, chìm thì trở lại thành lo. Quẻ chỉ có hào này trung mà được chính, trên dưới đều chìm trong Dự mà riêng nó giữ được trung chính, rắn như đá. Đức nó yên tĩnh mà vững chắc, cho nên suy nghĩ sáng suốt kỹ càng, không đợi hết ngày mà thấy được mầm mống mọi việc. Đại Học nói yên rồi mới lo được, lo được rồi mới đắc, ý chính như vậy. Người chiêm như thế thì chính mà tốt.)
- Trên hào Lục tam: 盱況于反○盱上視也隂不中正而近於四四為卦主故六三上視於四而下溺於豫宜有悔者也故其象如此而其占為事當速悔若悔之遲則必有悔也 (Hu là ngước lên nhìn. Âm không trung chính mà gần hào bốn, bốn là chủ quẻ, cho nên Lục tam ngước lên nhìn bốn mà dưới thì chìm trong Dự, nên có hối. Vì vậy tượng ấy như thế, mà lời chiêm là việc nên hối ngay, nếu hối chậm thì ắt có hối.)
- Trên hào Cửu tứ: 簪側林反○九四卦之所由以為豫者也故其象如此而其占為大有得然又當至誠不疑則朋類合而從之矣故又因而戒之簪聚也又速也 (Cửu tứ là chỗ do đó mà thành Dự, cho nên tượng ấy như vậy, mà lời chiêm là được lớn. Nhưng lại nên chí thành không nghi thì bạn bè hợp mà theo, cho nên lại nhân đó răn. Trâm là tụ, lại là nhanh.)
- Trên hào Lục ngũ: 當豫之時以柔居尊沈溺於豫又乗九四之剛衆不附而處勢危故為貞疾之象然以其得中故又為恆不死之象即象而觀占在其中矣 (Đương thời Dự, lấy nhu ở ngôi tôn, chìm đắm trong Dự, lại ngồi trên cương của Cửu tứ, mọi người không phụ, mà thế nguy, cho nên là tượng bệnh cố chấp. Nhưng vì nó được trung nên lại là tượng mãi không chết. Xem tượng thì lời chiêm ở trong đó.)
- Trên hào Thượng lục: 渝以朱反○以隂柔居豫極為昏冥於豫之象以其動體故又為其事雖成而能有渝之象戒占者如是則能補過而无咎所以廣遷善之門也 (Lấy âm nhu ở cực Dự là tượng mê tối trong Dự. Vì là thể động cho nên lại là tượng việc tuy đã thành mà có thể thay đổi. Răn người chiêm như vậy thì có thể bù lỗi mà không lỗi, ấy là để mở rộng cửa hướng thiện.)
Gặp quẻ Lôi Địa Dự khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Dự gợi một giai đoạn có thể có niềm vui, sự hứng khởi và nguồn lực tập hợp, nhưng cũng đặt ra vấn đề giữ mức độ. Quái từ chép "lợi kiến hầu hành sư", tức lợi về việc lập hầu và dấy binh, có thể đọc như gợi ý về việc tổ chức, quy tụ người và khởi sự khi đã có chuẩn bị. Tượng truyện viết "sấm ra khỏi đất mà phấn khởi", tiên vương nhân đó làm nhạc tôn đức, cho thấy hình ảnh hứng khởi được đưa vào khuôn khổ.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi công việc đang lên, hãy kiểm lại nền tảng, người đồng hành và mức độ tự tin của mình; giữ sự hứng khởi trong khuôn phép thì dễ bền hơn là buông theo đà hưng phấn.
Quẻ Lôi Địa Dự có lợi cho tình cảm và tiền bạc không?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Dự không phải lời hứa chắc chắn cho tình cảm hay tiền bạc. Các hào từ và lời chú cho thấy Dự gắn với niềm vui, sự quy tụ, nhưng cũng cảnh báo chuyện vui quá đà, chìm đắm, hoặc tự khoe mà sinh hối.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: với tình cảm, nên xem lại mình có đang vui theo đám đông hay theo nhu cầu thật của cả hai bên; với tiền bạc, nên tách phần hứng khởi khỏi phần tính toán, không để cảm xúc dẫn dắt quyết định lớn.
Sáu hào của quẻ Lôi Địa Dự nói gì?
Dưới đây tách lời gốc, chú giải có tên, rồi mới tới cách hiểu của Nhật Nguyệt.
Hào Sơ lục: khoe khoang niềm vui
Lời gốc chép: 初六:鳴豫,凶。Sơ lục: minh dự, hung. (Hào Sơ lục: khoe khoang niềm vui, hung.) Tiểu Tượng viết: 初六鳴豫,志窮凶也 (Sơ lục khoe khoang niềm vui, chí cùng nên hung).
Vương Bật chú: ở đầu thời Dự mà riêng được chí với bậc trên, vui quá thì dâm, chí cùng thì hung, Dự sao có thể khoe khoang?
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: âm nhu tiểu nhân, trên có chỗ dựa mạnh, gặp thời làm chủ sự, cho nên không thắng được niềm vui mà tự khoe, đó là đạo hung.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này nói về cái giá của việc phô bày niềm vui khi chưa có nền tảng. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu mới có chút thành quả, nên giữ kín tiếng và tiếp tục làm việc.
Hào Lục nhị: rắn như đá
Lời gốc chép: 六二:介于石,不終日,貞吉。Lục nhị: giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát. (Hào Lục nhị: rắn như đá, không đợi hết ngày, trinh thì tốt.) Tiểu Tượng viết: 不終日,貞吉;以中正也 (Không đợi hết ngày, trinh thì tốt; vì trung chính vậy).
Vương Bật chú: ở thời Dự, được ngôi mà đứng vào bậc trung, an với đạo chính, không cầu sự vui cẩu thả; thuận mà không theo cẩu thả, vui mà không trái trung, cho nên giao với trên không nịnh, giao với dưới không nhờn; rắn như đá, không đợi hết ngày là rõ vậy.
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: quẻ chỉ có hào này trung mà được chính, trên dưới đều chìm trong Dự mà riêng nó giữ được trung chính, rắn như đá; đức nó yên tĩnh mà vững chắc, cho nên suy nghĩ sáng suốt kỹ càng, không đợi hết ngày mà thấy được mầm mống mọi việc.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này gợi phẩm chất giữ mình, không bị cuốn theo đám đông. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi xung quanh đang hưng phấn, hãy dành thời gian kiểm lại dữ kiện trước khi hành động.
Hào Lục tam: ngước nhìn mà vui
Lời gốc chép: 六三:盱豫,悔。遲有悔。Lục tam: hu dự, hối. Trì hữu hối. (Hào Lục tam: ngước nhìn mà vui, hối. Chậm thì có hối.) Tiểu Tượng viết: 盱豫有悔,位不當也 (Ngước nhìn mà vui nên có hối, vì ngôi không xứng).
Vương Bật chú: ở cực của hạ thể, chỗ giáp hai quẻ, đạp ngôi không phải của mình, hứng chịu chủ của động Dự; nếu ngước nhìn mà vui thì hối cũng sinh; chậm mà không theo, đó là điều Dự ghét.
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: hu là ngước lên nhìn; âm không trung chính mà gần hào bốn, bốn là chủ quẻ, cho nên Lục tam ngước lên nhìn bốn mà dưới thì chìm trong Dự, nên có hối; lời chiêm là việc nên hối ngay, nếu hối chậm thì ắt có hối.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này nói về việc nhìn lên trên để tìm niềm vui mà quên vị trí của mình. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu thấy mình đang dò xét, chờ đợi người khác, nên chọn một hướng và tự chịu trách nhiệm về lựa chọn ấy.
Hào Cửu tứ: nguồn vui và sự quy tụ
Lời gốc chép: 九四:由豫,大有得。勿疑。朋盍戠。Cửu tứ: do dự, đại hữu đắc. Vật nghi. Bằng hạp trâm. (Hào Cửu tứ: do nơi đây mà vui, được lớn. Chớ nghi. Bạn bè hợp lại như trâm cài.) Tiểu Tượng viết: 由豫,大有得;志大行也 (Do nơi đây mà vui, được lớn; chí được thi hành lớn vậy).
Vương Bật chú: ở thời Dự, đứng đầu động, riêng mình là hào dương, mọi âm đều theo, không ai không do nó mà được vui; không tin vào vật thì vật cũng nghi, cho nên chớ nghi thì bạn hợp lại nhanh; hạp là hợp, trâm là nhanh.
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: Cửu tứ là chỗ do đó mà thành Dự, lời chiêm là được lớn; nhưng lại nên chí thành không nghi thì bạn bè hợp mà theo, cho nên lại nhân đó răn; trâm là tụ, lại là nhanh.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này nói về vị trí quy tụ và sự tin cậy. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu đang ở vai trò tập hợp người, hãy nói rõ ý định và giữ lời, vì sự nghi ngờ sẽ làm rã liên kết.
Hào Lục ngũ: bệnh cố chấp, mãi không chết
Lời gốc chép: 六五:貞疾,恆不死。Lục ngũ: trinh tật, hằng bất tử. (Hào Lục ngũ: bệnh cố chấp, mãi không chết.) Tiểu Tượng viết: 六五貞疾,乘剛也。恆不死,中未亡也 (Hào Lục ngũ bệnh cố chấp, vì ngồi trên cương. Mãi không chết, vì trung chưa mất vậy).
Vương Bật chú: hào bốn lấy cương động làm chủ của Dự, chuyên quyền nắm chế, không phải ngôi mình ngồi trên, cho nên không dám tranh quyền với bốn, mà lại ở giữa ngôi tôn, chưa thể mất được, vì vậy ắt thường đến mức bệnh cố chấp, mãi không chết mà thôi.
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: đương thời Dự, lấy nhu ở ngôi tôn, chìm đắm trong Dự, lại ngồi trên cương của Cửu tứ, mọi người không phụ, mà thế nguy, cho nên là tượng bệnh cố chấp; nhưng vì nó được trung nên lại là tượng mãi không chết.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này nói về thế đứng cao mà bị kẹt, không hẳn nguy đến mất nhưng khó tiến. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu ở vị trí cao mà thấy bế tắc, nên giữ sức và tìm cách dịch chuyển cấu trúc thay vì cố giữ nguyên nếp cũ.
Hào Thượng lục: vui tối tăm, biết đổi thì không lỗi
Lời gốc chép: 上六:冥豫,成有渝,无咎。Thượng lục: minh dự, thành hữu du, vô cữu. (Hào Thượng lục: vui tối tăm, việc đã thành mà có thay đổi, không lỗi.) Tiểu Tượng viết: 冥豫在上,何可長也 (Vui tối tăm ở trên, sao có thể lâu dài).
Vương Bật chú: ở cực của động Dự, vui hết mức, cho nên đến mức vui tối tăm đã thành; vui quá mà không thôi, sao có thể lâu? Cho nên ắt phải thay đổi rồi mới không lỗi.
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú: lấy âm nhu ở cực Dự là tượng mê tối trong Dự; vì là thể động cho nên lại là tượng việc tuy đã thành mà có thể thay đổi; răn người chiêm như vậy thì có thể bù lỗi mà không lỗi.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào này nói về đỉnh của sự vui và khả năng xoay chuyển. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi mọi việc đã thành và đang ở đỉnh hưng phấn, nên chủ động đổi cách làm trước khi đà xuống tự đến.
Quẻ Dự liên quan gì tới sức khỏe và sự tỉnh táo?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Dự không phải lời chẩn đoán sức khỏe. Hào Lục ngũ có chữ "tật" và "bất tử", nhưng theo Vương Bật và Chu Hy, đó là hình ảnh về thế đứng bị kẹt, không phải lời nói về bệnh tật thực tế.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu đang trong giai đoạn hưng phấn, hãy giữ nhịp sinh hoạt đều, đừng để niềm vui cuốn đi giấc ngủ và sự tập trung; vấn đề sức khỏe cụ thể nên hỏi người có chuyên môn.
Truyền thống quy tác giả quẻ Dự cho ai?
Truyền thống quy cho Phục Hy vạch quẻ, Văn Vương đặt lời quẻ, Chu Công đặt lời hào, Khổng Tử làm Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi chuỗi quy tác giả ấy là đã chứng minh, và thường xếp phần truyện vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN. Vì vậy khi đọc quẻ Dự, nên tách lời kinh, phần truyện và phần chú giải ra để không gán lẫn cho nhau.
