Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn làm lịch và ghi điềm trời thế nào?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn làm lịch và ghi điềm trời thế nào?

TL;DR: Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn là cơ quan soạn lịch và quan trắc thiên văn, đứng đầu là giám chính hàm chánh ngũ phẩm. Lịch được soạn xong thì dâng lên Thái miếu và ban cho quan dân theo nghi lễ định từ thời Gia Long. Đại Nam thực lục còn ghi việc vua Minh Mạng bắt sửa lịch năm Đinh Dậu vì còn để chữ Chân Lạp, cho thấy làm lịch là việc triều chính chứ không chỉ là tính toán.

Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn là cơ quan gì?

Khâm Thiên Giám là nha môn soạn lịch và theo dõi thiên văn của triều Nguyễn. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ chép chức 欽天監監正 (giám chính) và 欽天監監副 (giám phó) trong bảng phẩm trật của triều đình[3], nghĩa là đây là một cơ quan có quan chức riêng, không phải ban lập tạm. Bài nghiên cứu của Trương Anh Thuận (2025) điểm lại cơ quan này qua các triều đại quân chủ Việt Nam.

Việc của giám gồm hai mảng gắn với nhau: soạn lịch để triều đình ban cho cả nước, và được triều đình giao những việc cần đến hiểu biết về trời đất, như chọn ngày, chọn đất.

Phẩm trật của Khâm Thiên Giám được định ra sao?

Theo Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, đời Minh Mạng giám chính hàm chánh ngũ phẩm, giám phó hàm tòng ngũ phẩm[3]. Cùng bậc chánh ngũ phẩm trong bảng ấy có Hồng lô tự thiếu khanh, viên ngoại lang các bộ, thị độc Hàn lâm viện.

Thực lục cũng chép việc giám chính Hoàng Công Dương (黄公揚) được bổ làm Hộ bộ thiêm sự mà vẫn kiêm lĩnh chức giám chính[3]. Người đứng đầu giám vì thế có thể được giao thêm việc ở bộ khác.

Lễ ban lịch được định từ thời Gia Long thế nào?

Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ chép việc vua Gia Long sai các quan định lễ 頒曆 (ban lịch), 封寶 (phong bảo), 開寶 (khai bảo)[1]. Theo nghi thức ấy, ngày 28 tháng Chạp lịch được dâng lên Thái miếu, rồi dâng vào trong cung; đầu giờ Thìn vua ngự gác Triêu Dương, quan Hộ bộ quỳ tâu ban lịch năm sau[1].

Nguyên văn đoạn ấy:

> 寅末刻,進曆太廟,進曆入内。辰初刻,帝御朝陽閣,户部臣趨前跪奏云:“明年頒曆,慶賀皇上萬萬歲。”[1]

Dịch nghĩa: cuối giờ Dần, dâng lịch lên Thái miếu, dâng lịch vào trong cung. Đầu giờ Thìn, vua ngự gác Triêu Dương, quan Hộ bộ bước lên quỳ tâu: "Ban lịch năm tới, xin mừng Hoàng thượng vạn vạn tuế."

Lịch do Khâm Thiên Giám soạn, nhưng lời tâu ban lịch là của Hộ bộ: ban lịch là một nghi lễ của triều đình, không riêng của cơ quan thiên văn.

Vì sao lịch năm Đinh Dậu bị bắt sửa?

Khi Khâm Thiên Giám soạn lịch năm Minh Mạng thứ 18, năm Đinh Dậu (1837), ở chỗ ghi giờ khắc tiết khí theo từng địa phương, lịch vẫn để chữ 眞臘 (Chân Lạp). Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ chép lời vua: Chân Lạp đã đặt làm Trấn Tây thành từ lâu, ai cũng biết; lịch năm Bính Thân trước đã ban ra thì không bắt tội, nay lại sai như thế. Vua sai sửa ngay thành 鎭西 (Trấn Tây), giám chính và giám phó đều bị phạt[3].

> 欽天監修明命十八年丁酉曆於地方節氣辰刻處仍舊著眞臘字樣[3]

Đoạn này cho thấy hai điều. Lịch triều Nguyễn có ghi giờ khắc tiết khí cho từng địa phương, không chỉ một mốc chung cho kinh đô. Và lịch là văn bản triều đình ban ra, nên địa danh trong lịch phải theo đúng tên hành chính hiện hành: một chữ tên cũ là lỗi đáng phạt.

Khâm Thiên Giám còn làm những việc gì ngoài soạn lịch?

Thực lục đời Minh Mạng chép việc vua sai đình thần đem theo Khâm Thiên Giám tới các núi ở xã Kim Ngọc, Định Môn để chọn trước vạn niên cát địa cho lăng, vẽ bản đồ dâng lên để vua tự chọn[3]. Hiểu biết về trời đất, ngày giờ và đất đai thời ấy được giao cho cùng một cơ quan.

Cũng đời Minh Mạng, triều đình ban sách Vạn niên thư mới in (頒新刋萬年書) cho các hoàng tử, đại thần ở kinh và các trực tỉnh, cả Trấn Tây thành, mỗi nơi một bản[3]. Vạn niên thư là sách lịch dùng cho nhiều năm, khác tờ lịch ban hằng năm. Trong số ấn vua cho đúc thêm có ấn 治曆明時之寶 (Trị lịch minh thời chi bảo), tức ấn "sửa lịch, làm rõ thời"[3].

Sử sách Việt Nam ghi nhật thực, sao chổi thế nào?

Sử quan Việt Nam ghi điềm trời từ rất sớm. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1479), bộ sử thời Lê, chép năm Bính Tuất (155 TCN) "mùa đông, tháng 11, có sao Chổi mọc ở phương tây"[2]. Đó là ghi chép của sử quan các triều trước, không phải của Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn.

Theo quan niệm thiên nhân cảm ứng của Nho học, nhật thực, sao chổi là điềm trời nhắc nhà vua xét lại việc trị nước; vì thế chúng được chép vào chính sử cạnh việc triều chính.

Bảng đối chiếu các mốc chính trong Đại Nam thực lục

TriềuNămSự việcNguồn
Gia LongĐịnh lễ ban lịch, phong bảo, khai bảo; ngày 28 tháng Chạp dâng lịch lên Thái miếu, Hộ bộ tâu ban lịch năm sauĐệ nhất kỷ[1]
Minh MạngGiám chính hàm chánh ngũ phẩm, giám phó hàm tòng ngũ phẩmĐệ nhị kỷ[3]
Minh MạngGiám chính Hoàng Công Dương làm Hộ bộ thiêm sự, vẫn lĩnh chức giám chínhĐệ nhị kỷ[3]
Minh Mạng18, Đinh Dậu (1837)Lịch còn chữ Chân Lạp, vua bắt sửa thành Trấn Tây, giám chính và giám phó bị phạtĐệ nhị kỷ[3]
Minh MạngĐình thần cùng Khâm Thiên Giám chọn đất vạn niên cát địa ở Kim Ngọc, Định MônĐệ nhị kỷ[3]
Minh MạngBan Vạn niên thư mới in cho kinh và các tỉnh; đúc ấn Trị lịch minh thời chi bảoĐệ nhị kỷ[3]

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi xem một tờ lịch hay cuốn sách lịch thời Nguyễn còn lại, hãy để ý con dấu và các địa danh in trong đó. Lịch là văn bản triều đình ban ra, nên tên đất trên lịch đổi theo quy định hành chính, như vụ chữ Chân Lạp năm Đinh Dậu.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn có chức năng gì?

Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn phụ trách soạn lịch để ban cho cả nước và theo dõi các hiện tượng trên trời. Đại Nam thực lục còn ghi việc cơ quan này được huy động chọn đất lăng và ban sách Vạn niên thư.

Lịch năm Đinh Dậu 1837 bị sửa vì lý do gì?

Lịch do Khâm Thiên Giám soạn còn ghi chữ Chân Lạp ở chỗ tiết khí giờ khắc dù triều đình đã đặt Trấn Tây. Vua Minh Mạng bắt sửa thành Trấn Tây, giám chính và giám phó đều bị phạt.

Lễ ban lịch thời Gia Long diễn ra ngày nào?

Theo Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, lễ ban lịch diễn ra ngày 28 tháng Chạp: buổi sáng dâng lịch lên Thái miếu, sau đó Hộ bộ tâu "minh niên ban lịch" và vua ban lịch cho quan dân.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdQuốc sử quán triều Nguyễn (1848). Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ (大南寔錄正編第一紀), Đời Gia Long, định lễ ban lịch (頒曆), ngày 28 tháng Chạp明年頒曆,慶賀皇上萬萬歲。
  2. ↑Ngô Sĩ Liên (1479). Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển 1 tới quyển 5 (大越史記全書 外紀), các năm Bính Tuất, Đinh Hợi丙戌五十三年〈漢景帝二年〉(公元前一五五年)冬,十一月,有星孛于西方。
  3. ↑ abcdefghijklmQuốc sử quán triều Nguyễn (1861). Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ (大南寔錄正編第二紀), Đời Minh Mạng: phẩm trật Khâm Thiên Giám; lịch năm Đinh Dậu (1837); chọn vạn niên cát địa; ban Vạn niên thư欽天監修明命十八年丁酉曆於地方節氣辰刻處仍舊著眞臘字樣

Đọc thêm

#KhâmThiênGiám#LịchÂm#ĐạiNamThựcLục#TriềuNguyễn#BanLịch#NhậtThực#SaoChổi