Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Kinh thành Huế được đặt trên thế đất nào: sông Hương, núi Ngự Bình, cồn Hến, cồn Dã Viên và vì sao thành quay mặt về hướng đông nam?

Chia sẻ:
東
TL;DR: Kinh thành Huế được khảo sát năm 1803, khởi công năm 1805 và cơ bản hoàn thành năm 1832 dưới triều Minh Mạng, xây trên đất tám làng cũ ở bờ bắc sông Hương. Thế đất được các nhà địa lý thời Nguyễn đọc theo loan đầu: sông Hương làm minh đường, núi Ngự Bình làm tiền án như bức bình phong, cồn Hến và cồn Dã Viên hai bên ứng với Thanh Long và Bạch Hổ. Thành quay mặt về hướng đông nam, khác với Bắc Kinh quay chính nam, và các nguồn giải thích khác nhau: có nguồn cho là theo dòng sông, có nguồn cho là theo thế núi án.

Vì sao Kinh thành Huế được đặt trên đất tám làng cũ?

Kinh thành Huế không mọc lên trên đất trống. Khu vực được chọn nguyên là vùng gò đảo, ao hồ thuộc địa phận tám làng trù phú bên bờ bắc sông Hương, và khi chọn làm kinh đô thì dân các làng phải dời đi. Sách Đại Nam thực lục chép rằng năm Gia Long thứ hai (1803), nhà vua sai giám thành Nguyễn Văn Yến ra bốn mặt ngoài đô thành cũ Phú Xuân đo cắm để mở rộng, và vua đích thân định cách thức xây thành. Việc mở rộng ảnh hưởng đến đất ở, đất ruộng của dân nên triều đình thực hiện chính sách đền bù nhà cửa, ruộng vườn.

Tháng 4 năm Ất Sửu (1805), sau khi Bộ Lễ chọn ngày tốt làm lễ tế trời đất, vua Gia Long cho khởi công đắp thành. Hơn ba vạn lính và dân phu chủ yếu từ Quảng Bình đến Quy Nhơn được huy động. Mới đầu thành đắp bằng đất, bọc gỗ ván mặt ngoài, từ tháng 4 đến tháng 8 đã hoàn tất. Đến năm 1818 mới bắt đầu xây gạch. Vua Gia Long mất năm 1820 khi công việc còn dang dở; vua Minh Mạng nối ngôi tiếp tục, cho tu sửa kỳ đài năm 1831, xây bó mặt trong bên hữu và phía sau. Đến năm 1832, công việc xây đắp Kinh thành đã xong. Như vậy công cuộc kéo dài gần 30 năm, có năm làm, có năm nghỉ, có năm tu bổ vì lũ lụt phá hỏng.

Sông Hương, núi Ngự Bình, cồn Hến, cồn Dã Viên đóng vai trò gì trong thế đất?

Theo sơ đồ trục cảnh quan phong thủy của TS Phan Thanh Hải được Báo Thanh Niên dẫn lại, Kinh thành Huế và hệ thống thành quách đều nằm trên một trục quay mặt về hướng nam - đông nam, xây dựa vào địa thế của núi Ngự và sông Hương. Trục chính của hệ thống chạy qua giữa đỉnh núi Ngự Bình, gọi là trục dũng đạo, thẳng hướng tây bắc - đông nam, xuyên tâm với Kinh thành. Trên trục ấy là các công trình Kỳ đài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Cần Chánh cho đến cửa Hòa Bình.

Núi Ngự Bình, còn gọi ngắn gọn là núi Ngự, trước có tên hòn Mô hay núi Bằng, là hòn núi đất cao 103 m ở bờ nam sông Hương, cách Kinh thành khoảng 4 km về phía nam. Núi có dạng hình thang, đỉnh bằng phẳng, hai bên có hai ngọn nhỏ chầu vào gọi là Tả Phụ sơn và Hữu Bật sơn, tên do vua Minh Mạng đặt năm 1822. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn mô tả núi nổi lên ở quãng đất bằng như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước Kinh thành. Sách Đại Nam dư địa chí ước biên của Tổng tài Cao Xuân Dục cũng ghi núi vuông chằn chặn như bức bình phong, là bức án trọng yếu bậc nhất phía trước Kinh thành.

Về hai cồn bên sông, các bài khảo cứu của Báo Thanh Niên gọi cồn Hến và cồn Dã Viên là hai yếu tố ứng với Thanh Long và Bạch Hổ theo cách gọi của nguồn. Đây là cách đọc địa hình theo loan đầu: hai bên tả hữu của huyệt trường có gò đất hay cồn bồi ôm giữ, tạo thế che chắn. Sách Nhập môn loan đầu khi bàn về minh đường cũng nhấn mạnh rằng mức độ cát lợi của minh đường nằm ở sự tụ hợp, Long Hổ ôm ấp, án sơn ngang che, các dòng thủy về triều hội. Sách Phong thủy cổ đại Trung Quốc: lý luận và thực tiễn, tập 2 gọi gò đất bên trái kiến trúc là Thanh Long Sa, bên phải là Bạch Hổ Sa, đóng vai bảo vệ và tăng cường quyền thế cho nền móng. Đối chiếu với thế đất Huế, sông Hương chảy ngang trước thành đóng vai minh đường, núi Ngự Bình đóng vai án sơn, còn hai cồn hai bên đóng vai tả hữu.

Bảng đối chiếu các yếu tố địa hình

Yếu tốVị trí so với kinh thànhVai trò theo loan đầuVai trò thực tế
Sông HươngChảy ngang phía trước mặt thànhMinh đường, tụ thủy, đón sinh khíGiao thông đường thủy, nguồn nước, vành đai tự nhiên
Núi Ngự BìnhBờ nam sông Hương, cách khoảng 4 km về phía namTiền án, bức bình phong che chắn phía trướcMốc định hướng trục cảnh quan, điểm nhìn từ Kỳ đài
Cồn HếnMột bên sông, phía tả của thế đấtỨng với Thanh Long theo cách gọi của nguồnBồi tụ phù sa, chỗ neo đậu, dân cư
Cồn Dã ViênMột bên sông, phía hữu của thế đấtỨng với Bạch Hổ theo cách gọi của nguồnBồi tụ phù sa, chỗ neo đậu, dân cư
Hào thànhBao quanh bốn mặt thànhVành đai thủy ôm giữPhòng thủ và thoát nước
Vùng gò đảo, ao hồ cũNền đất tám làng bờ bắc sông HươngNền cũ được cải tạo thành mặt bằng kinh đôSan lấp, dời dân, lấy đất xây thành

Bảng trên cho thấy mỗi yếu tố địa hình đều có hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa thứ nhất là cách người xưa đọc địa thế theo thuật ngữ loan đầu. Lớp nghĩa thứ hai là công năng thực tế: giao thông, phòng thủ, thoát nước. Hai lớp nghĩa ấy không loại trừ nhau mà thường chồng lên nhau, vì một dòng sông vừa là minh đường vừa là đường thủy, một ngọn núi vừa là tiền án vừa là mốc định hướng.

Vì sao thành quay mặt về hướng đông nam chứ không chính nam?

Kinh thành Huế quay mặt về hướng đông nam, khác với Tử Cấm Thành Bắc Kinh quay chính nam. Đây là điểm mà các nguồn ghi nhận như một nét riêng của kinh đô nhà Nguyễn. Wikipedia tiếng Anh về Imperial City of Huế ghi rõ thành được định hướng nhìn ra sông Hương về phía đông nam, và khác với Bắc Kinh, khu hoàng cư không xếp theo các vòng đồng tâm quanh cung vua mà lệch về phía đông nam của thành, gần sông hơn.

Về lý do, các nguồn đưa ra cách giải thích không hoàn toàn trùng nhau. Cách giải thích thứ nhất là theo dòng sông: mặt thành nhìn ra khúc sông Hương chảy ngang, lấy dòng nước làm minh đường, nên hướng thành gắn với hướng dòng chảy và khúc uốn của sông. Cách giải thích thứ hai là theo núi án: trục chính của hệ thống thành quách chạy qua giữa đỉnh núi Ngự Bình, tức là hướng thành được chọn sao cho trục ấy thẳng tới tiền án. Hai cách giải thích này dẫn tới cùng một kết quả trên thực địa nhưng nhấn vào hai yếu tố khác nhau, một bên là thủy, một bên là sơn. Báo Thanh Niên khi mô tả hệ thống thành quách cũng dùng cách nói gộp: thành quay mặt về hướng nam - đông nam, được xây dựa vào địa thế của núi Ngự, sông Hương. Cách nói gộp ấy cho thấy chính nguồn cũng không tách bạch hoàn toàn hai yếu tố.

Cần nói rõ rằng đây là chỗ các nguồn không thống nhất với nhau về trọng số của từng lý do, chứ không phải chỗ mâu thuẫn về dữ kiện. Dữ kiện hướng đông nam thì các nguồn đều ghi nhận. Việc yếu tố nào quyết định hơn, dòng sông hay ngọn núi, thì mỗi tài liệu nghiêng một cách. Bài này theo cách trình bày của Báo Thanh Niên và của Wikipedia tiếng Anh, tức là nêu cả hai cách giải thích và không chọn một bên.

Thành lũy kiểu Vauban kết hợp với bố cục phương Đông

Kinh thành Huế được xây theo kiểu Vauban, hình gần như vuông, diện tích 520 ha, chu vi trên 10.500 m. Hệ thống thành quách gồm Kinh thành (thành ngoài), Hoàng thành và Tử cấm thành (thành trong) đều nằm trên một trục. Theo sách Đại Nam thực lục được Báo Thanh Niên dẫn lại, bốn mặt thành dài 2.487 trượng 4 thước 7 tấc, bốn mặt hào dài 2.503 trượng 4 thước 7 tấc, có 10 cửa. Năm 1818 làm 24 đài trên thành, phía trước là các đài Nam Minh, Nam Hưng, Nam Thắng, Nam Chính, Nam Xương, Nam Hanh; bên tả là các đài Đông Thái, Đông Trương, Đông Hoa, Đông Phụ, Đông Vĩnh, Đông Bình; phía sau là các đài Bắc Cung, Bắc Hòa, Bắc Thanh, Bắc Trung, Bắc Thuận, Bắc Điện; bên hữu là các đài Tây Thành, Tây Tuy, Tây Tĩnh, Tây Dực, Tây An, Tây Trinh. Ở góc đông bắc đắp đài Thái Bình, kỳ đài cao 4 trượng 4 thước.

Điều đáng chú ý là kiểu Vauban vốn là kỹ thuật công sự phương Tây, với hệ thống đài, góc cạnh, hào sâu để chống pháo binh. Nhưng khi đặt vào Huế, nó được tổ chức lại theo bố cục phương Đông: trục dũng đạo chạy xuyên tâm, tiền án là núi, minh đường là sông, tả hữu là cồn. Nói cách khác, kỹ thuật xây thành theo kiểu phương Tây được đặt trong một sơ đồ địa lý văn hóa phương Đông. Đây là điểm khiến Kinh thành Huế khác với một pháo đài Vauban thuần túy.

Những khiếm khuyết được các nguồn nêu

Bên cạnh các yếu tố được xem là thuận lợi, một số nguồn cũng nêu những bất lợi của việc chọn Phú Xuân làm kinh đô. Wikipedia tiếng Anh về Imperial City of Huế liệt kê ba điểm: thứ nhất, địa hình hẹp và vị trí biệt lập, khó huy động nguồn lực lớn khi có biến ở vùng khác; thứ hai, xa cả hai trung tâm kinh tế và quân sự là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, việc vận chuyển gạo, thực phẩm, lính, tiền đúc giữa Gia Định, Huế, Hà Nội là gánh nặng; thứ ba, vị trí gần biển, khó phòng thủ nếu cửa Thuận An bị phong tỏa. Nguồn này cũng dẫn lời Đại sứ Anh John Crawfurd khi đến Việt Nam năm 1822 nhận xét rằng chọn Huế làm kinh đô là một ý tồi. Cần lưu ý đây là ghi nhận của một nguồn, và đặt cạnh những đánh giá khác coi thế đất Huế là cuộc đất vương đảo. Việc nêu ra ở đây không nhằm kết luận cát hung mà để thấy rằng ngay trong giới nghiên cứu, việc đánh giá thế đất Huế cũng có nhiều ý kiến khác nhau.

Vì sao phải đọc phong thủy đặt cạnh lý do thực tế?

Các yếu tố được gọi là phong thủy trong thế đất Kinh thành Huế đều có thể đọc song song với công năng thực tế. Sông Hương là minh đường, đồng thời là trục giao thông thủy chính. Hào thành là vành đai thủy ôm giữ, đồng thời là hệ thống phòng thủ và thoát nước. Núi Ngự Bình là tiền án, đồng thời là mốc định hướng cho trục cảnh quan và là điểm nhìn từ Kỳ đài. Cồn Hến và cồn Dã Viên là tả hữu, đồng thời là chỗ bồi tụ phù sa, nơi neo đậu và tụ cư. Cách đọc hai lớp nghĩa này giúp tránh cả hai thái cực: không xem phong thủy là mê tín vô căn cứ, cũng không xem nó là lời giải thích duy nhất cho mọi quyết định quy hoạch. Với Kinh thành Huế, có thể nói người xưa vừa đọc địa thế theo thuật ngữ loan đầu, vừa giải quyết các bài toán giao thông, phòng thủ, thoát nước, và hai việc ấy thường được làm cùng lúc.

Dấu tích hôm nay và công tác trùng tu

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới năm 1993, trong đó Hoàng thành Huế là một phần với khu vực 159,71 ha và vùng đệm 71,93 ha. Sau khi triều Nguyễn chấm dứt năm 1945, khu di tích chịu nhiều tổn thất do chiến tranh và thời tiết, đến nay đang được trùng tu.

Về dân cư trong khu vực di tích, từ năm 2019 đến 2023, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã di dời hơn 5.000 hộ dân sinh sống trong khu vực I của hệ thống Kinh thành theo Dự án Bảo tồn, Tu bổ và Tôn tạo Hệ thống Kinh thành Huế giai đoạn 1. Giai đoạn 1 đã hoàn thành xây dựng 10 khu tái định cư với tổng diện tích gần 83 ha. Giai đoạn 2 (2023-2025) tiếp tục di dời các hộ dân tại khu vực Quần thể Di tích Cố đô Huế nằm ngoài Kinh thành. Khu vực Mang Cá sau giải phóng mặt bằng rộng khoảng 42 ha, khu vực Thượng Thành, Eo Bầu, tuyến Phòng Lộ trên 20 ha. Riêng với núi Ngự Bình, tình trạng lấn chiếm làm nghĩa địa từ chân núi lên gần một nửa núi cả bốn mặt đã được ghi nhận, và tỉnh đã giao thành phố Huế triển khai dự án giải tỏa, di dời mồ mả, chỉnh trang khu vực, với giai đoạn 1 ưu tiên khu vực chân núi tính từ đường Ngự Bình vào với quy mô khoảng 9 ha.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Kinh thành Huế được khởi công và hoàn thành vào năm nào?

Theo sách Đại Nam thực lục được Báo Thanh Niên dẫn lại, năm 1803 vua Gia Long sai người khảo sát, đo cắm để mở rộng đô thành cũ Phú Xuân. Tháng 4 năm Ất Sửu (1805), vua cho khởi công đắp Kinh thành. Công việc kéo dài qua hai triều Gia Long và Minh Mạng, đến năm 1832 thì cơ bản hoàn thành, tổng cộng gần 30 năm, có năm làm, có năm nghỉ, có năm tu bổ vì lũ lụt.

Vì sao Kinh thành Huế quay mặt về hướng đông nam mà không phải chính nam?

Các nguồn ghi nhận Kinh thành Huế quay mặt về hướng đông nam, khác với Tử Cấm Thành Bắc Kinh quay chính nam. Cách giải thích không hoàn toàn thống nhất: có cách cho là theo dòng sông Hương chảy ngang làm minh đường, có cách cho là theo thế núi Ngự Bình làm tiền án với trục chính chạy qua giữa đỉnh núi. Báo Thanh Niên mô tả gộp là thành quay mặt về hướng nam - đông nam, dựa vào địa thế của núi Ngự và sông Hương.

Núi Ngự Bình và sông Hương giữ vai trò gì trong thế đất Kinh thành Huế?

Theo sách Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam dư địa chí ước biên, núi Ngự Bình nổi lên giữa vùng đất bằng như bức bình phong, là lớp án thứ nhất trước Kinh thành. Trong thuật ngữ loan đầu, núi này đóng vai tiền án, còn sông Hương chảy ngang trước thành đóng vai minh đường. Hai cồn Hến và cồn Dã Viên hai bên sông ứng với Thanh Long và Bạch Hổ theo cách gọi của nguồn.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Thanh Niên: Phong thủy Kinh thành Huế - 30 năm ròng rã xây dựng Kinh thành Huế
  2. Báo Thanh Niên: Phong thủy Kinh thành Huế - Đệ nhất án Ngự Bình
  3. VietnamPlus: Bảo tồn, tôn tạo Kinh thành Huế - Những thay đổi từ cuộc di dân lịch sử
  4. Wikipedia tiếng Anh: Imperial City of Huế
  5. Phong thủy cổ đại Trung Quốc: lý luận và thực tiễn, tập 2
#KinhThànhHuế#PhongThủy#NúiNgựBình#SôngHương#LoanĐầu#MinhĐường#TiềnÁn#CốĐôHuế#TriềuNguyễn#Vauban