Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Kinh Dịch trở thành kinh điển thế nào: các nhà Tống đọc Dịch ra sao, và Kinh Dịch sang Việt Nam, phương Tây bằng đường nào

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Chia sẻ:
東
TL;DR: Theo sử học hiện đại, Kinh Dịch (Yijing, Chu Dịch, I Ching) vốn là văn bản bói thời Chu, được kinh điển hoá vào năm 135 TCN khi gộp phần lời gốc với Thập Dực. Sang thời Tống, Thiệu Ung, Trình Di và Chu Hy đọc lại Dịch theo hai hướng tượng số và nghĩa lý, biến nó thành sách triết học. Từ đó Kinh Dịch lan sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên và sang phương Tây qua các nhà truyền giáo và dịch giả thế kỷ 17 tới 20.

Nhãn trong bài:Tư liệu lịch sửDiễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Kinh Dịch được kinh điển hoá khi nào và vì sao?

Theo Tze-Ki Hon trong mục từ "Chinese Philosophy of Change (Yijing)" của Stanford Encyclopedia of Philosophy (bản sửa lớn 18/09/2023), đến năm 135 TCN phần lời gốc và bảy thiên bàn giải (gọi chung là Thập Dực, 十翼 shiyi) đã được gộp lại thành một văn bản hợp nhất, và đó là cái mà ngày nay ta gọi là Kinh Dịch1. Trước mốc ấy, Kinh Dịch là một văn bản nhiều tầng: tầng biểu tượng (bát quái, lục thập tứ quái), tầng lời quái và lời hào, rồi tầng bàn giải triết học1. Loại tri thức: Trường phái: Tze-Ki HonDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnHon gọi văn bản hợp nhất này là một "văn bản hỗn hợp" gồm biểu tượng, ghi chép bói, ghi chép lịch sử, văn học dân gian và luận thuyết triết học1.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnTheo Richard J. Smith trong The I Ching: A Biography (2012), chính sự kiện kinh điển hoá năm 135 TCN đã mở đường cho giới trí thức Trung Hoa đọc Kinh Dịch như một văn bản triết học, và cách đọc ấy khiến Kinh Dịch trở thành một văn bản sống suốt thời đế chế2. Loại tri thức: Trường phái: Richard J. SmithDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnÔng nhấn mạnh rằng Kinh Dịch không phải một cuốn sách có một tác giả mà là một chuỗi lớp chồng lên nhau, mỗi thời đọc lại một cách2.

Cần tách bạch: chuỗi Phục Hy vạch quái, Văn Vương làm lời quái, Chu Công làm lời hào, Khổng Tử viết Thập Dực là truyền thống quy tác giả, không phải sự kiện lịch sử đã được chứng minh. Đây là mức C theo cách phân loại của site. Chi tiết về niên đại và các lớp văn bản đã được trình bày ở bài Kinh Dịch do ai viết, bài đó bàn niên đại, còn bài này bàn tiếp nhận.

Các nhà Tống đọc Dịch theo những hướng nào?

Theo Kidder Smith Jr. và cộng sự trong Sung Dynasty Uses of the I Ching (1990), các nhà Tống không đọc Kinh Dịch như một khối thống nhất. Cùng một văn bản, Tô Thức, Trình Di, Thiệu Ung và Chu Hy rút ra những điều khác nhau, phục vụ những mục đích khác nhau.

Loại tri thức: Trường phái: Tze-Ki HonDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnHon phân biệt ba hướng tiếp cận chính trong lịch sử chú giải: hướng vũ trụ luận (cosmological), hướng nhân văn lý tính (rational humanistic) và hướng bói toán (divination)1. Ba hướng này không loại trừ nhau; nhiều nhà chú giải cùng lúc dùng cả ba, nhưng nghiêng về một hướng nhất định1.

Thiệu Ung và hướng tượng số

Loại tri thức: Trường phái: Thiệu UngDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnThiệu Ung (1011-1077) đọc Kinh Dịch theo hướng tượng số. Ông dựng sơ đồ Tiên Thiên (先天) sắp xếp 64 quái theo một trật tự khác với trật tự truyền thống, nhằm mô hình hoá nhịp vận hành của vũ trụ.

Với Thiệu Ung, 64 quái không chỉ là công cụ bói mà là bản đồ vũ trụ, và con người có thể đọc được nhịp của vũ trụ qua các con số và biểu tượng. Sơ đồ Tiên Thiên của ông về sau trở thành một trong những sơ đồ quen thuộc nhất của Kinh Dịch, xuất hiện trong nhiều sách phổ biến và trên nhiều trang tra cứu ngày nay.

Trình Di và hướng nghĩa lý

Loại tri thức: Trường phái: Trình DiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTrình Di (1033-1107) đọc Kinh Dịch theo hướng nghĩa lý (義理). Ông không quan tâm nhiều tới các con số và sơ đồ, mà tập trung vào ý nghĩa đạo đức và chính trị của từng quái, từng hào. Với Trình Di, Kinh Dịch là sách dạy cách hành xử của người quân tử trong từng tình huống cụ thể.

Hon ghi nhận rằng Trình Di viết Y Xuyên Dịch Truyện (伊川易傳) như một tác phẩm chính trị học, nhằm định nghĩa lại cách cai trị văn minh cho thời Bắc Tống. Cách đọc của Trình Di ảnh hưởng sâu tới các nhà Nho đời sau, đặc biệt ở Việt Nam và Triều Tiên.

Chu Hy và sự cân bằng giữa bói toán và đạo đức

Loại tri thức: Trường phái: Chu HyDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnChu Hy (1130-1200) đọc Kinh Dịch theo cách cố gắng giữ cả hai hướng: ông vừa quan tâm tới bói toán như một thực hành nghi lễ, vừa đọc Dịch như sách đạo đức. Trong Chu Dịch Bản Nghĩa (周易本義), Chu Hy trình bày lời gốc trước, rồi tới lời bàn của mình, tách bạch hai tầng1.

Theo Joseph A. Adler trong bài "Chu Hsi and Divination" in trong Sung Dynasty Uses of the I Ching (1990), Chu Hy coi bói toán là một phần không thể tách rời của Kinh Dịch, không phải một tàn dư mê tín cần gạt bỏ. Với Chu Hy, bói toán là dịp để người hỏi tự soi lại mình, chứ không phải để cầu xin một thế lực bên ngoài can thiệp.

Bảng: các nhà đọc Dịch và cách đọc của họ

Người đọcThờiCách đọc chínhDi sản còn thấy hôm nay
Kinh Phòng (Jing Fang)77-37 TCNTượng số, sắp 64 quái theo Bát CungSơ đồ Bát Cung quái
Vương Bật (Wang Bi)226-249Nghĩa lý, bỏ qua tượng sốBản chú giải được dịch sang tiếng Anh bởi Richard John Lynn (1994)
Thiệu Ung1011-1077Tượng số, vũ trụ luậnSơ đồ Tiên Thiên
Trình Di1033-1107Nghĩa lý, đạo đức và chính trịY Xuyên Dịch Truyện
Chu Hy1130-1200Cân bằng bói toán và đạo đứcChu Dịch Bản Nghĩa
Lê Quý Đôn1726-1784Nghĩa lý, kết hợp thiên văn và lịch phápVân Đài Loại Ngữ (bàn về Dịch)
Ngô Thì Nhậm1746-1803Nghĩa lý, gắn với chính trị đương thờiTrúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh
Richard Wilhelm1873-1930Dịch thuật, phổ biến sang tiếng ĐứcBản dịch tiếng Đức (1924), được Cary F. Baynes dịch sang tiếng Anh (1950)

Loại tri thức: Trường phái: Tze-Ki HonDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnHon ghi nhận thêm rằng Kinh Phòng (77-37 TCN) đã tạo ra Bát Cung Quái (八宮卦), trong đó mỗi quái cung dẫn đầu một nhóm bảy quái, thể hiện sự tăng giảm của hai lực âm dương1. Sơ đồ này về sau trở thành một phần của truyền thống tượng số mà các nhà Tống như Thiệu Ung kế thừa1.

Kinh Dịch sang Việt Nam bằng đường nào?

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnTheo Richard J. Smith trong The I Ching: A Biography (2012), Kinh Dịch lan sang Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên chủ yếu qua con đường Nho học và khoa cử2. Các sĩ tử ở ba nước này học Kinh Dịch như một trong Ngũ Kinh, và các nhà Nho bản địa viết chú giải riêng2.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnDanh mục nghiên cứu hiện có về Kinh Dịch ở Việt Nam còn mỏng. Các tác gia như Lê Quý Đôn (1726-1784) và Ngô Thì Nhậm (1746-1803) có bàn về Dịch trong các tác phẩm của mình, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh về cách các ông đọc Dịch2. Đây là một khoảng trống trong tư liệu hiện có.

Loại tri thức: Trường phái: Richard J. SmithDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnSmith cho rằng ở Việt Nam, Kinh Dịch được đọc chủ yếu qua lăng kính Nho giáo và qua các sách chú giải của Trình Di và Chu Hy, chứ không qua truyền thống tượng số như ở Trung Hoa2. Điều này có thể do con đường truyền bá chính là khoa cử và Nho học2.

Kinh Dịch sang phương Tây bằng đường nào?

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnTheo Richard J. Smith trong The I Ching: A Biography (2012), các nhà truyền giáo dòng Tên là những người đầu tiên giới thiệu Kinh Dịch với phương Tây vào thế kỷ 172. Họ mang các bản dịch và sơ đồ quái về châu Âu, và Kinh Dịch được đọc như một văn bản triết học cổ xưa2.

Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các học giả phương Tây bắt đầu dịch Kinh Dịch trực tiếp từ tiếng Hán2. Bản dịch của Richard Wilhelm sang tiếng Đức (1924), rồi được Cary F. Baynes dịch sang tiếng Anh (1950), là bản dịch có ảnh hưởng lớn nhất ở phương Tây1.

Loại tri thức: Trường phái: Richard J. SmithDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnSmith ghi nhận rằng Kinh Dịch đến với độc giả phương Tây qua nhiều tầng dịch thuật và qua nhiều cách đọc khác nhau: có người đọc như sách triết học, có người đọc như sách bói, có người đọc như văn bản văn học2. Không có một cách đọc duy nhất nào được coi là chuẩn2.

Vì sao Kinh Dịch đọc được nhiều cách đến vậy?

Loại tri thức: Trường phái: Tze-Ki HonDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnHon lý giải rằng chính tính nhiều tầng của Kinh Dịch khiến nó khó bị đóng khung vào một cách đọc1. Nếu tập trung vào 64 quái, Kinh Dịch giống một sách bói; nếu tập trung vào Thập Dực, nó giống một luận thuyết triết học về quá trình vũ trụ1.

Với Hon, các nhà chú giải Trung Hoa thời đế chế đã phát triển ba hướng tiếp cận khác nhau để đối diện với biến dịch: hướng vũ trụ luận, hướng nhân văn lý tính và hướng bói toán1. Mỗi hướng trả lời một câu hỏi khác nhau, và không hướng nào phủ định hướng nào1.

Hon cũng lưu ý rằng với các tác giả Kinh Dịch, bói toán mang tính triết học vì mục đích của nó là tạo cơ hội để người hỏi tự soi lại mình1. Trong lúc thực hiện nghi lễ bói, người hỏi có một khoảnh khắc yên tĩnh để nhìn lại quá khứ, xét hiện tại và hoạch định bước tiếp theo1.

Điều bài này không nói

Bài này không bàn ai đọc Kinh Dịch "đúng". Không có một cách đọc chuẩn nào được giới nghiên cứu hiện đại thừa nhận là duy nhất2. Các cách đọc khác nhau phục vụ những mục đích khác nhau: vũ trụ luận, đạo đức, chính trị, bói toán, văn học1.

Bài này cũng không kể chuỗi Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử như sự kiện lịch sử. Đó là truyền thống quy tác giả, mức C theo cách phân loại của site. Chi tiết về niên đại và các lớp văn bản đã được trình bày ở bài Kinh Dịch do ai viết.

Bài này cũng không đưa ra lời khuyên về sức khoẻ, y tế hay đầu tư. Kinh Dịch là một văn bản lịch sử và triết học, không phải một công cụ dự đoán tài chính hay sức khoẻ.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Kinh Dịch được kinh điển hoá vào năm nào?

Theo Tze-Ki Hon trong mục từ "Chinese Philosophy of Change (Yijing)" của Stanford Encyclopedia of Philosophy (bản sửa lớn 18/09/2023), đến năm 135 TCN phần lời gốc và Thập Dực đã được gộp lại thành một văn bản hợp nhất, và đó là cái mà ngày nay ta gọi là Kinh Dịch. Trước mốc ấy, Kinh Dịch là một văn bản nhiều tầng.

Các nhà Tống đọc Kinh Dịch khác nhau thế nào?

Theo Kidder Smith Jr. và cộng sự trong Sung Dynasty Uses of the I Ching (1990), các nhà Tống không đọc Kinh Dịch như một khối thống nhất. Thiệu Ung đọc theo hướng tượng số và vũ trụ luận, Trình Di đọc theo hướng nghĩa lý và đạo đức, Chu Hy cố gắng giữ cả hai hướng. Mỗi người rút ra những điều khác nhau, phục vụ những mục đích khác nhau.

Kinh Dịch sang phương Tây bằng đường nào?

Theo Richard J. Smith trong The I Ching: A Biography (2012), các nhà truyền giáo dòng Tên là những người đầu tiên giới thiệu Kinh Dịch với phương Tây vào thế kỷ 17. Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các học giả phương Tây bắt đầu dịch Kinh Dịch trực tiếp từ tiếng Hán. Bản dịch của Richard Wilhelm sang tiếng Đức (1924), rồi được Cary F. Baynes dịch sang tiếng Anh (1950), là bản dịch có ảnh hưởng lớn nhất ở phương Tây.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopRichard J. Smith (2012). The I Ching: A Biography. Princeton University Press (Lives of Great Religious Books), Toàn sách (thẻ thư mục, kho không có toàn văn)
  2. ↑ abcdefghijklmKidder Smith Jr. và cộng sự (1990). Sung Dynasty Uses of the I Ching. Princeton University Press, Toàn sách (thẻ thư mục, kho không có toàn văn)
#KinhDịch#LịchSửKinhDịch#ChuHyKinhDịch#KinhDịchLeibniz#CácNhàTống#ThiệuUng#TrìnhDi#TượngSố#NghĩaLý