Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Đồng thầy và bản hội giữ luật hầu đồng thế nào sau khi UNESCO công nhận: từ giá đồng tới nghi thức múa lửa

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chia sẻ:
越
TL;DR: Người quyết định một buổi hầu đồng đúng hay sai lề lối không phải cơ quan quản lý, mà là cộng đồng thực hành, cụ thể là đồng thầy và bản hội: họ truyền dạy, tổ chức và giữ lề qua các nghi thức như múa lửa tẩy trần. Từ khi UNESCO công nhận Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ năm 2016, vai trò ấy thêm một tầng mới: đồng thầy và bản hội phải vừa giữ lề cũ, vừa điều chỉnh thực hành cho xứng với danh hiệu di sản, giữa sức ép thương mại hoá và các tranh chấp quanh việc ai có quyền định nghĩa thế nào là đúng.

Nhãn trong bài:Quan niệm dân gianDiễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Đồng thầy và bản hội là ai trong thực hành hầu đồng?

Đồng thầy là người đến với Mẫu trước, có nhiều trải nghiệm tâm linh và hiểu cách lễ Mẫu, cách thực hành nghi lễ hơn những tín đồ khác; bản hội là cộng đồng những người cùng thực hành quanh một đồng thầy1. Trong một bản hội, đồng thầy đóng vai người "rước kẻ đi sau", dẫn dắt và trao truyền cách thực hành cho đệ tử của mình1.

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnNhiều người Việt Nam nói chung, kể cả tín đồ thờ Mẫu, thường nặng về thực hành mà thiếu hiểu biết lý thuyết về tôn giáo tín ngưỡng: đi lễ nhưng ít biết sự tích, giáo lý hay ý nghĩa biểu tượng1. Với người mới đến đạo Mẫu, hiểu biết về hệ thống điện thần, thần tích các vị thánh, các nghi lễ và chức năng của chúng thường mơ hồ1. Chính đồng thầy là người bồi đắp khoảng trống kiến thức ấy khi họ gia nhập bản hội1.

Ai quyết định một buổi hầu đồng đúng hay sai lề lối?

Trả lời ngắn: cộng đồng thực hành quyết định, và trong cộng đồng ấy, đồng thầy cùng bản hội là người giữ lề. Công trình thực địa của Mai Thị Hạnh, tập trung phần lớn vào các bản hội ở Hà Nội, chỉ ra rằng việc truyền dạy do đồng thầy đảm nhiệm, trong khi bản hội vận hành như một cộng đồng thực hành, tại đó các thực hành được bảo tồn, nuôi dưỡng và trao truyền1.

Điều đáng chú ý là trước khi có bất kỳ văn bản quản lý nào, lề lối đã được giữ bằng quan hệ thầy trò trong bản hội. Đồng thầy không chỉ dạy cách mở phủ, trình đồng, mà còn uốn nắn cách hành lễ, cách ăn mặc, cách ứng xử trong và ngoài buổi hầu. Bản hội vừa là nơi học, vừa là nơi nhắc nhở lẫn nhau. Nói cách khác, chuẩn mực của một buổi hầu đồng được hình thành từ bên trong cộng đồng thực hành, không từ bên ngoài áp vào.

Sau 2016, vai trò ấy có đổi không?

Có, nhưng không theo hướng cơ quan quản lý thay cộng đồng quyết định. Sau khi Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nhiều đồng thầy không khỏi trăn trở bởi xã hội vẫn tồn tại định kiến, dán cho người hành lễ những nhãn mác như "bọn đồng bóng", "tính khí thất thường", thậm chí "điên rồ"1. Họ tìm cách giải định kiến bằng việc sưu tầm và làm rõ chân giá trị của tín ngưỡng, lan toả trước tiên cho cộng đồng bản hội của mình1.

Nhiều đồng thầy cho rằng là con nhà Mẫu mà không hiểu về Mẫu, thực hành mà không hiểu thì sẽ thực hành không đúng, gây nên những biến tướng và tạo cái nhìn thiếu thiện cảm của xã hội1. Như vậy, sau công nhận, chính cộng đồng thực hành là bên tự đặt thêm chuẩn mực cho mình, chứ không phải chỉ chờ hướng dẫn từ trên xuống.

Múa lửa trong hầu đồng: một nghi thức cụ thể để nhìn ra cách giữ lề

Múa lửa, còn gọi là múa mồi, là một điệu thức xuất hiện với tần suất khá nhiều trong các khâu của nghi lễ lên đồng. Ngay từ khi nghi lễ này được phản ánh chi tiết trong tài liệu của Nhất Lang và M. Durand năm 1959, múa lửa đã được ghi nhận, trong đó Durand gọi là múa đuốc chập chờn.

Múa lửa có ý nghĩa gì?

Theo Nguyễn Ngọc Mai, trong nghi lễ lên đồng, để căn đồng rơi vào trạng thái thăng hoa thì âm nhạc, chất kích thích, màu sắc đều có vai trò, nhưng âm nhạc tự thân không có tự tính tôn giáo. Điều làm nên tính tôn giáo của nghi lễ là sự gắn bó giữa âm nhạc với yếu tố lửa. Các căn đồng diễn đạt rằng chính lửa tạo ra môi trường chuyển hoá từ cái trần tục sang cái thiêng liêng, tức nhập thánh tẩy trần.

Theo tác giả, những chiếc áo không phải là thứ làm nên ý nghĩa tôn giáo hay môi trường chuyển đổi Tục - Thiêng; thay vào đó, ngọn lửa cùng khả năng hấp thụ sinh khí vũ trụ của chiếc khăn phủ mặt màu đỏ mới là yếu tố quyết định. Trong nghi lễ lên đồng thông thường (hầu vui), lên đồng bắt tà chữa bệnh, hay lên đồng chứng đàn thụ pháp cho con nhang, lửa luôn có mặt từ đầu đến khi kết thúc. Lửa được dùng trong các điệu múa mồi, tức múa bằng mồi lửa hoặc bằng nắm hương cháy rất to; cùng với đao, kiếm, cờ, quạt, mồi lửa là chất liệu không thể thiếu trong bất cứ buổi lên đồng nào.

Loại tri thức: Trường phái: Nguyễn Ngọc MaiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnCách hiểu này là diễn giải của một nhà nghiên cứu về ý nghĩa tôn giáo của nghi thức, không phải lời tuyên bố của cộng đồng thực hành về việc họ tin gì khi múa lửa.

Lịch sử: từ bị cấm đoán tới được công nhận

Nghi lễ lên đồng từng trải qua các thời kỳ bị cấm đoán rồi tới khi được công nhận di sản2. Đây là một quá trình lịch sử, không phải một bước ngoặt đơn lẻ. Với tư cách là một chuyên khảo, tác phẩm của Nguyễn Ngọc Mai bàn về nghi lễ lên đồng đã giới thiệu lịch sử đó, đồng thời cả những giá trị văn hoá lẫn các vấn đề như thương mại hoá2..

Sau khi được công nhận, bên cạnh niềm tự hào là những nỗi lo hậu vinh danh1. Các nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý văn hóa và cả cộng đồng thực hành lo ngại nhiều người sẽ lợi dụng việc vinh danh di sản để "bảo hiểm" cho việc "buôn thần bán thánh", "thương mại hóa hầu đồng"1. Để ứng phó với tình trạng này, cần thiết lập các biện pháp nhằm bảo vệ và thanh lọc thực hành nghi lễ thờ Mẫu1.

Di sản hoá đã đổi vai trò của người giữ lề ra sao?

Thông qua quá trình di sản hoá, một thực hành từng bị coi là mê tín đã trở thành đối tượng được tôn vinh, kéo theo các tranh chấp quanh việc thiêng hoá di sản ở Việt Nam3. Khi một thực hành được thánh hoá như di sản, câu hỏi ai có quyền định nghĩa thế nào là đúng trở nên phức tạp hơn: không chỉ cộng đồng thực hành, mà cả nhà quản lý văn hoá, nhà nghiên cứu và công chúng cũng có tiếng nói3.

Điều này không có nghĩa đồng thầy và bản hội mất vai trò. Theo kết luận từ nghiên cứu của Mai Thị Hạnh, bản hội giữ vai trò cộng đồng thực hành, có nhiệm vụ bảo tồn, nuôi dưỡng và trao truyền các thực hành; về mặt lý thuyết, bài học rút ra là phải tôn trọng vai trò của cộng đồng, chủ thể di sản, đồng thời xem họ như lực lượng nòng cốt trong công cuộc bảo vệ di sản1.

Những chỗ còn tranh luận

Thương mại hoá và việc "bảo hiểm" cho thực hành

Lo ngại lớn nhất sau công nhận là việc lợi dụng danh hiệu di sản để thương mại hoá hầu đồng1. Đây là lo ngại của cả nhà nghiên cứu, nhà quản lý và cộng đồng thực hành, không phải phán xét của riêng ai1. Cần nói rõ: bài này không kết luận một giá đồng cụ thể nào là "biến tướng", cũng không dùng chữ "biến tướng" như một phán quyết. Các tài liệu ghi nhận rằng trong cộng đồng có lo ngại về hiện tượng ấy, và lo ngại đó tự nó là một dữ kiện về đời sống của cộng đồng.

Ai có quyền định nghĩa thế nào là đúng?

Đây là chỗ các nguồn cho thấy một quá trình tranh chấp, không phải một đáp án duy nhất. Salemink mô tả việc di sản hoá kéo theo các tranh chấp tôn giáo quanh việc thánh hoá di sản và nhân quyền ở Việt Nam3. Mai Thị Hạnh lại nhấn mạnh vai trò nòng cốt của cộng đồng thực hành trong bảo vệ di sản1. Hai cách tiếp cận này không mâu thuẫn: một bên mô tả các lực lượng đang tranh nhau định nghĩa, một bên đề xuất cộng đồng thực hành phải được coi là trung tâm.

Bảng đối chiếu các nguồn

NguồnLoạiPhạm vi dữ liệuNội dung chính
Mai Thị Hạnh (2019)Bài báo bình duyệt, mức ATư liệu thực địa chủ yếu tại các bản hội ở Hà NộiVai trò đồng thầy và bản hội trong truyền dạy, điều chỉnh thực hành sau công nhận UNESCO1
Nguyễn Ngọc Mai (2014)Bài báo bình duyệt, mức ANghi lễ lên đồng ở châu thổ Bắc BộHình thức và ý nghĩa nghi thức múa lửa trong các giá đồng
Nguyễn Ngọc Mai (2017)Sách học thuật, mức ALịch sử nghi lễ lên đồngLịch sử từ bị cấm tới công nhận, giá trị văn hoá và vấn đề thương mại hoá2
Salemink (2020)Chương sách học thuật, mức ATranh chấp quanh di sản hoá ở Việt NamThánh hoá di sản và các tranh chấp tôn giáo đi kèm3

Chỗ bằng chứng còn thiếu

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCác nghiên cứu dẫn ở đây chủ yếu dựa trên thực địa ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ1. Chưa có nghiên cứu tương đương về đồng thầy và bản hội ở miền Nam trong các nguồn được dẫn. Vì vậy không nên suy rộng kết luận về vai trò của đồng thầy và bản hội cho toàn quốc khi chưa có dữ liệu ở các vùng khác.

Vậy lề lối hầu đồng do ai giữ?

Lề lối hầu đồng do cộng đồng thực hành giữ và thay đổi. Đồng thầy là người truyền dạy, bản hội là cộng đồng thực hành, bảo tồn, nuôi dưỡng và trao truyền1. Di sản hoá thêm một tầng chuẩn mực mới: sau công nhận, cộng đồng không chỉ giữ lề cũ mà còn tự đặt yêu cầu cao hơn cho mình, đồng thời đối diện với sức ép thương mại hoá và các tranh chấp quanh việc ai định nghĩa thế nào là đúng13.

Muốn hiểu sâu hơn về bối cảnh di sản và những vấn đề quanh thực hành thờ Mẫu, có thể đọc thêm bài Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ: di sản UNESCO và những biến tướng cần phân biệt.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Đồng thầy là gì?

Đồng thầy là người đến với Mẫu trước, có nhiều trải nghiệm tâm linh và hiểu cách lễ Mẫu, cách thực hành nghi lễ hơn các tín đồ khác. Trong bản hội, đồng thầy là người dẫn dắt, trao truyền cách thực hành cho đệ tử và bồi đắp kiến thức về điện thần, nghi lễ cho người mới.

Múa lửa trong hầu đồng có ý nghĩa gì?

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Mai, múa lửa (múa mồi) là điệu thức xuất hiện với tần suất khá nhiều trong nghi lễ lên đồng. Lửa được xem là yếu tố tạo môi trường chuyển hoá cái trần tục thành cái thiêng liêng, hay nhập thánh tẩy trần theo cách nói của các căn đồng. Đây là diễn giải của nhà nghiên cứu về ý nghĩa tôn giáo của nghi thức.

Bản hội hầu đồng là gì và giữ vai trò gì?

Bản hội là cộng đồng những người cùng thực hành quanh một đồng thầy. Theo Mai Thị Hạnh, bản hội đóng vai trò là cộng đồng thực hành, bảo tồn, nuôi dưỡng và trao truyền các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Tác giả kết luận cần coi cộng đồng thực hành là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ di sản.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopqrstMai Thị Hạnh (2019). Vai trò của đồng thầy và bản hội trong việc bảo tồn, phát huy các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7 (187), 2019, tr. 75 trở đi, tr. 8, 12, 15, 23, 26Trong một bản hội, rõ ràng đồng thầy là người đến với Mẫu trước, người có nhiều trải nghiệm tâm linh, hiểu được cách thức lễ Mẫu, cách thức thực hành các nghi lễ thờ Mẫu hơn bất kỳ tín đồ nào.
  2. ↑ abcNguyễn Ngọc Mai (2017). Nghi lễ lên đồng: lịch sử và giá trị. Hà Nội: NXB Hà Nội, 2017, 422 tr., Sách chuyên khảo, 422 tr.
  3. ↑ abcdeOscar Salemink (2020). Homo Sanctus: Religious Contestations and the Sanctification of Heritage and Human Rights in Vietnam. Trong The Secular Sacred, Palgrave Macmillan (Springer) 2020, tr. 129-154, tr. 129-154

Đọc thêm

#ĐồngThầy#BảnHộiHầuĐồng#MúaLửaTrongHầuĐồng#HầuĐồng#ThờMẫuTamPhủ#TínNgưỡngDânGian#DiSảnUNESCO