Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Vì sao có người 'phải ra đồng': căn đồng qua lời kể người trong cuộc và cách nhà nhân học đọc nó

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chia sẻ:
Vì sao có người 'phải ra đồng': căn đồng qua lời kể người trong cuộc và cách nhà nhân học đọc nó
TL;DR: Trong lời kể của nhiều người hầu đồng, những trắc trở kéo dài về sức khoẻ, công việc hay gia đình được diễn giải là dấu hiệu cho thấy người ấy có căn, phải ra đồng để giải hạn và nhập vào bản hội. Giới nhân học không kết luận về thần linh mà đọc quá trình trình đồng, mở phủ như một con đường tái dựng bản thân, thương lượng giới và vị trí xã hội trong đời sống đương đại.

Nhãn trong bài:Quan niệm dân gianChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Câu trả lời ngắn: căn đồng được kể và được đọc như thế nào?

Trong lời kể của người hầu đồng, "căn" là một duyên nợ với thánh, và những trắc trở kéo dài trong đời sống thường được diễn giải là dấu hiệu cho thấy người ấy phải ra đồng, tức trình đồng mở phủ để nhập vào bản hội. Giới nhân học không kết luận về sự hiện diện của thần linh; họ đọc quá trình ấy như một con đường xây lại bản thân và vị trí xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hoá và chuyển đổi kinh tế.

Cần nói ngay một giới hạn: hiện chưa có nghiên cứu định lượng về số người ra đồng hay chi phí trung bình của một lễ trình đồng, nên trong bài này không có con số nào như vậy. Những gì trình bày dưới đây là kết quả của các công trình dân tộc chí và nhân học, tức mức chứng cứ đồng thuận trong giới nghiên cứu, và được ghi rõ tác giả, năm ngay trong câu.

Bài này chỉ bàn cách người trong cuộc kể và cách nhà nghiên cứu đọc. Về nghi lễ hầu đồng nói chung và về di sản thờ Mẫu Tam phủ, mời xem hai bài đã có: Hầu đồng là gì? Nghi lễ trung tâm của Đạo Mẫu và Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ: di sản UNESCO và những biến tướng cần phân biệt.

'Căn' trong lời kể người trong cuộc là gì?

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong cách nói của người thực hành, "căn" hoặc "căn đồng" chỉ mối liên hệ được cho là có sẵn giữa một người với các vị thánh trong hệ thống thờ Mẫu. Người có căn thường được kể là gặp những chuyện không suôn sẻ lặp đi lặp lại: ốm đau dai dẳng không rõ nguyên nhân, làm ăn thất bát, gia đình lục đục, hoặc những giấc mơ và biến cố được xem là điềm báo. Khi các cách giải quyết thông thường không đem lại kết quả, người ta tìm đến thầy đồng, thầy bói, hoặc các điện thờ để hỏi nguyên do, và câu trả lời thường gặp là người ấy có căn, phải ra đồng.

Nguyễn Thị Hiền, trong bài nghiên cứu về con đường trở thành bà đồng ở Việt Nam đương đại, mô tả quá trình này như một sự kiện có tính bước ngoặt trong cuộc đời người thực hành. Trước khi ra đồng, người ấy thường ở trong trạng thái được mô tả là bị hành, và sau khi trình đồng mở phủ, nhiều người kể rằng tình trạng của họ thay đổi: bệnh lui, công việc có chuyển biến, hoặc tâm trí nhẹ nhõm hơn. Điểm đáng chú ý là lời kể ấy có một cấu trúc khá ổn định, từ trắc trở đến tìm thầy, đến lễ trình đồng, đến sự đổi thay.

Một câu chuyện đời điển hình được ghi lại thế nào?

Trong dân tộc chí của mình, Nguyễn Thị Hiền theo dấu con đường trở thành người hầu đồng qua chính lời kể của người trong cuộc. Kiểu tự sự thường gặp có ba chặng. Chặng thứ nhất là giai đoạn trắc trở: người ấy kể về những năm tháng ốm đau, mất mát, hoặc bế tắc mà không có cách nào cắt nghĩa. Chặng thứ hai là giai đoạn tìm hiểu: qua một người quen, một giấc mơ, hoặc một lần đi lễ, người ấy được cho biết mình có căn và phải ra đồng. Chặng thứ ba là giai đoạn nhập bản hội: sau lễ trình đồng mở phủ, người ấy trở thành đồng thầy hoặc đồng mới, có thầy dạy, có bản hội, và bắt đầu tham gia các lễ hầu đồng.

Điều quan trọng về mặt phương pháp là ba chặng này được kể lại như một chuỗi nhân quả đã hoàn tất, tức là sau khi sự việc đã xảy ra, người kể sắp xếp lại ký ức thành một câu chuyện có ý nghĩa. Nhà nghiên cứu không đọc đó như biên bản sự kiện mà như cách con người tạo nghĩa cho quãng đời của mình.

Nhà nhân học đọc quá trình ra đồng như thế nào?

Kirsten W. Endres, trong công trình dân tộc chí về lên đồng ở Hà Nội, đặt quá trình trở thành đồng thầy trong bối cảnh kinh tế thị trường và đô thị hoá. Bà mô tả lên đồng như một sân khấu nơi người thực hành thương lượng bản sắc, giới và địa vị. Việc nhập vai các vị quan, các cô, các chầu không chỉ là nghi lễ mà còn là cách người thực hành thử nghiệm những hình mẫu quyền lực và giới tính khác với những gì họ có trong đời thường.

Trong một bài viết sau đó, Endres tiếp tục phân tích quan hệ giữa nhập vai và chuẩn mực giới trong đô thị Việt Nam. Bà cho thấy các vai nam tính và nữ tính trong nghi lễ không hoàn toàn trùng với chuẩn mực ngoài đời, và chính khoảng chênh ấy tạo ra không gian cho người thực hành. Với nhiều phụ nữ, việc trở thành đồng thầy là một con đường có được uy tín, thu nhập và mạng lưới quan hệ mà đời thường khó đạt được.

Ngô Đức Thịnh, trong cuốn sách dày 332 trang về lên đồng, đặt tên cho phần thứ hai là "Sự đắp đổi thân phận". Cách gọi này gợi ý một cách đọc: ra đồng là một cuộc trao đổi, trong đó người thực hành đổi lấy một thân phận mới, có thánh chống lưng, có bản hội, có vị trí trong cộng đồng tín ngưỡng. Ông cũng tiếp cận lên đồng từ góc tâm sinh lý, góc giới và góc tích hợp văn hoá, tức là đặt nó trong nhiều khung phân tích chứ không chỉ một.

Bảng đối chiếu các cách đọc chính

Tác giả và nămPhạm vi dữ liệuTrọng tâm cách đọc
Nguyễn Thị Hiền (2007)Người hầu đồng ở Việt Nam đương đạiCăn đồng, trắc trở được diễn giải là dấu hiệu ra đồng; con đường trở thành bà đồng
Kirsten W. Endres (2011)Dân tộc chí lên đồng ở Hà NộiTrình diễn, thị trường, hiện đại hoá; con đường thành đồng và chi phí
Kirsten W. Endres (2016)Lên đồng ở đô thị Việt NamNhập vai quan, cô và chuẩn mực giới
Ngô Đức Thịnh (2008)Tổng quan Đạo Mẫu ở Việt NamTâm sinh lý, giới, tích hợp văn hoá; "sự đắp đổi thân phận"
Nguyễn Ngọc Mai (2013)Nghiên cứu trường hợp ở châu thổ Bắc BộPhương pháp phỏng vấn sâu và hạn chế của lời kể

Vì sao lời kể người trong cuộc vừa quý vừa cần đọc cẩn thận?

Nguyễn Ngọc Mai, trong bài về phương pháp phỏng vấn sâu trong nghiên cứu nhân học, chia sẻ kinh nghiệm từ nghiên cứu trường hợp lên đồng ở châu thổ Bắc Bộ. Bà lưu ý rằng phỏng vấn sâu phù hợp để làm rõ bản chất vấn đề và động cơ hành động, nhưng thông tin chỉ chính xác khi khoảng cách giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn gần như không còn. Muốn vậy, nhà nghiên cứu phải tạo được sự đồng cảm và thâm nhập cộng đồng, chẳng hạn qua phương pháp câu chuyện cuộc đời.

Cùng bài viết ấy nêu một cảnh báo quan trọng: khi quan sát tham dự và trải nghiệm trong nghiên cứu tôn giáo, nhà nghiên cứu dễ bị ảnh hưởng bởi niềm tin của người được nghiên cứu, và dễ nhìn hiện tượng theo cách nhìn của tín đồ mà quên vị trí khách quan khi phân tích. Đây là lý do vì sao các bài như bài này phải tách rõ hai tầng: tầng lời kể của người trong cuộc và tầng phân tích của nhà nghiên cứu.

Các nghiên cứu này có nói gì về hiệu quả của việc ra đồng không?

Tuyển tập do Karen Fjelstad và Nguyễn Thị Hiền chủ biên, tập hợp các nghiên cứu nhân học về lên đồng ở Việt Nam và ở cộng đồng hải ngoại, cho thấy đây là một lĩnh vực đã được khảo sát khá hệ thống trong giới nhân học. Các công trình trong tuyển tập này tiếp cận lên đồng như một thực hành xã hội và tôn giáo, không đặt vấn đề chứng minh hay phủ nhận sự hiện diện của thần linh.

Về phía người thực hành, nhiều người kể rằng sau khi ra đồng họ thấy nhẹ nhõm hơn, bệnh lui, công việc thuận hơn. Với tư cách nhà nghiên cứu, có thể ghi nhận rằng niềm tin có thể đổi hành vi, và hành vi đổi kết quả: một người tin rằng mình đã giải được hạn có thể ăn ngủ tốt hơn, chủ động hơn trong công việc, và do đó đường đời có thể chuyển biến. Đó là hiệu ứng có thật sinh ra từ niềm tin, không phải bằng chứng rằng thần linh đã can thiệp, cũng không phải lý do để phủ nhận trải nghiệm của người trong cuộc.

Khi nào trắc trở nên được xem là bệnh cần đi khám?

Nguyễn Thị Hiền có một bài riêng về "bệnh âm", tức cách chẩn đoán và chữa trị trong lên đồng của người Việt. Trong cách hiểu này, một số trạng thái được người thực hành quy cho nguyên nhân thuộc về âm, và việc ra đồng được xem như một cách xử lý. Đây là cách hiểu của một hệ tín ngưỡng, không phải một phạm trù y khoa.

Ranh giới cần nói rõ: bài này không bàn chẩn đoán, không đưa lời khuyên y tế, và không có thẩm quyền để nói khi nào một triệu chứng là bệnh âm hay bệnh thực thể. Khi có dấu hiệu bất thường về sức khoẻ kéo dài, việc cần làm là đi khám để loại trừ nguyên nhân y khoa trước. Đây là điều nên nói thẳng, không phải để phủ nhận trải nghiệm tâm linh của ai, mà để tránh một trắc trở có thể chữa được lại bị bỏ qua.

Những chỗ bằng chứng còn thiếu

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnHiện chưa có nghiên cứu định lượng về số người hầu đồng ở Việt Nam, về tỉ lệ người ra đồng sau một biến cố, hay về chi phí trung bình của một lễ trình đồng. Các công trình được dẫn ở đây chủ yếu là dân tộc chí và nghiên cứu trường hợp, tức là mạnh về chiều sâu và yếu về khả năng khái quát. Vì vậy, không nên đọc bài này như một bức tranh thống kê về hiện tượng ra đồng.

Cũng chưa có nghiên cứu theo dõi dài hạn so sánh nhóm người ra đồng với nhóm không ra đồng, nên không thể nói gì về quan hệ nhân quả giữa việc trình đồng và những thay đổi trong đời sống. Lời kể về sự đổi thay là dữ liệu về trải nghiệm, không phải dữ liệu về hiệu quả.

Kết luận: đọc hai tầng, không phán xét

Bài này trình bày trải nghiệm của người trong cuộc với sự tôn trọng, và trình bày cách giới nghiên cứu hiểu nó, không kết luận về thần linh. Với người hầu đồng, "phải ra đồng" là một sự thật trong đời sống tín ngưỡng của họ, gắn với một cộng đồng thực hành đang được bảo vệ như di sản. Với nhà nhân học, đó là một quá trình xã hội có thể quan sát, mô tả và phân tích, trong đó con người tái dựng bản thân và vị trí của mình. Hai tầng này không loại trừ nhau, và người đọc không cần chọn một bên.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Căn đồng là gì?

Trong cách nói của người thực hành, căn đồng chỉ mối liên hệ được cho là có sẵn giữa một người với các vị thánh trong hệ thống thờ Mẫu. Người có căn thường được kể là gặp trắc trở lặp đi lặp lại, và khi tìm thầy thì được cho biết phải ra đồng để giải hạn. Đây là cách hiểu của một hệ tín ngưỡng, không phải một phạm trù y khoa hay tâm lý học.

Vì sao nhà nhân học không kết luận về thần linh?

Vì câu hỏi thần linh có hiện diện hay không nằm ngoài khả năng kiểm chứng của phương pháp dân tộc chí. Nhà nhân học quan sát và mô tả điều con người tin, nói và làm, chẳng hạn cách một người kể lại quãng đời trắc trở của mình và cách cộng đồng xác nhận lời kể ấy. Kết luận về sự thật siêu hình không thuộc phạm vi ấy.

Có số liệu nào về số người hầu đồng hoặc chi phí ra đồng không?

Hiện chưa có nghiên cứu định lượng về số người hầu đồng ở Việt Nam, về tỉ lệ người ra đồng sau một biến cố, hay về chi phí trung bình của một lễ trình đồng. Các công trình hiện có chủ yếu là dân tộc chí và nghiên cứu trường hợp, mạnh về chiều sâu và yếu về khả năng khái quát. Vì vậy bài viết này không đưa ra con số nào.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. nguyen dang huu 2016 tam linh ma thuat giao thong
  2. mai thi hanh 2019 dong thay ban hoi tho mau
  3. jordan 1999 gods ghosts ancestors taiwanese
  4. pham xuan hau 2020 tam linh mieu ba chua xu du lich
  5. cao the trinh 2020 thoi diem ra doi tho mau tam phu
  6. nguyen huu thu 2019 tho mau khia canh kinh te
  7. nguyen anh tuan 2008 len dong hanh trinh than linh
  8. nguyen ngoc mai 2013 phong van sau len dong
  9. unesco 2010 giong festival nomination
#CănĐồng#HầuĐồng#LênĐồng#ĐạoMẫu#TrìnhĐồngMởPhủ#TínNgưỡngDânGian#NhânHọcTônGiáo#NguyễnThịHiền#KirstenEndres#NgôĐứcThịnh