TL;DR: Phần lớn người Việt không chọn một tôn giáo duy nhất để theo, mà thực hành song song nhiều tín ngưỡng dân gian: thờ cúng tổ tiên trong nhà, thờ Thành hoàng ở đình làng, thờ Mẫu, thờ Hùng Vương, thờ cúng nghề nghiệp và các lễ nghi nông nghiệp. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 tách rõ hai khái niệm: tín ngưỡng là niềm tin thể hiện qua lễ nghi gắn với phong tục, tập quán truyền thống; tôn giáo có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Vì vậy khi hỏi người Việt theo tín ngưỡng nào, câu trả lời đúng thường là một chồng lớp tín ngưỡng, chứ không phải một danh xưng duy nhất.

Người Việt theo tín ngưỡng nào, và vì sao câu hỏi này khó trả lời bằng một cái tên?
Phần lớn người Việt không theo một tín ngưỡng duy nhất. Họ thực hành nhiều lớp tín ngưỡng cùng lúc: trong nhà có bàn thờ tổ tiên, ra đình làng có Thành hoàng, lên phủ có Thánh Mẫu, đến đền Hùng có các vua Hùng, vào dịp mùa màng có lễ cúng thần nông, thần lúa. Đây là đặc điểm được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam.
{sư} Dưới góc độ pháp lý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đưa ra cách hiểu: tín ngưỡng chính là niềm tin mà con người thể hiện qua các lễ nghi gắn với phong tục, tập quán truyền thống, nhằm đem lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Những lễ nghi dân gian tiêu biểu cho giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội, cùng với việc tưởng niệm, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, thờ các biểu tượng linh thiêng và thờ cúng tổ tiên, đều thuộc phạm vi hoạt động tín ngưỡng. Cách định nghĩa này đặt tín ngưỡng đối lập với tôn giáo ở chỗ: một tôn giáo chỉ được coi là hội đủ tư cách khi có đồng thời hệ thống quan niệm, đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữ vai trò gì trong đời sống người Việt?
Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến nhất, hiện diện trong gần như mọi gia đình người Việt, bất kể họ có theo tôn giáo nào hay không. Nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương mô tả thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng thiêng liêng mang ý nghĩa uống nước nhớ nguồn, mỗi gia đình đều dành không gian trang nghiêm nhất trong nhà làm nơi thờ phụng ông bà[1].
{sư} Học giả Pháp Gustave Dumoutier (1850-1904) đã ghi chép tỉ mỉ các biểu tượng xuất hiện trên đồ thờ cúng của người Việt như chữ phúc, chữ thọ, hình âm dương, Hà Đồ, Lạc Thư, đồng thời giải thích ý nghĩa và cách ứng dụng chúng trong đời sống tín ngưỡng, bao gồm cả những niềm tin và điều kiêng kị[1]. Công trình của ông phác họa đời sống tinh thần của người Việt thế kỷ XIX qua hệ thống hình ảnh minh họa chi tiết[1].
Theo quan niệm dân gian, bàn thờ tổ tiên là nơi ông bà quá cố có thể chứng giám lòng thành của con cháu, vì vậy ngày giỗ thường được trang trí tôn nghiêm hơn ngày thường, với hương hoa và cỗ cúng vong linh người quá cố. Bên cạnh bàn thờ chính giữa nhà, nhiều gia đình ở nam Trung Bộ còn dựng thêm một bàn thờ nhỏ ngoài sân.
Thờ Thành hoàng làng: tín ngưỡng cộng đồng đặc trưng của làng xã Việt
Thờ Thành hoàng làng là tín ngưỡng cộng đồng gắn với ngôi đình, nơi thờ vị thần bảo hộ của làng xóm. Đây là lớp tín ngưỡng phân biệt làng này với làng khác, và thường gắn với các lễ hội làng.
{sư} Vào năm 2014, Đinh Khắc Thuân đã lý giải rằng việc thờ cúng Thành hoàng tại Việt Nam vừa có cội nguồn sâu xa từ tục thờ Thành hoàng Trung Quốc, vừa nảy sinh từ tập quán thờ thần linh vốn phổ biến trong người Việt, với mục đích ghi nhớ công lao của những người có đóng góp cho dân làng và cầu xin thần linh che chở, phù trì. Tên gọi Thành hoàng vốn từ Trung Quốc, chỉ vị thần bảo hộ thành trì, nhưng khi vào Việt Nam thì chuyển thành Thành hoàng làng, thần bảo hộ của làng xóm. Cho tới nay, vẫn tồn tại nhiều cách cắt nghĩa khác nhau về mốc thời gian hình thức thờ cúng này du nhập và định hình tại Việt Nam.
{sư} Những gì còn lưu lại từ hoạt động thờ cúng Thành hoàng làng nằm trong kho tàng di sản văn hóa vật thể lẫn phi vật thể vô cùng phong phú, bao gồm các bản thần tích được ghi bằng chữ Hán Nôm.
Tín ngưỡng thờ Mẫu và Đạo Mẫu có phải là một tôn giáo không?
Đây là chỗ các nhà nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất, nên cần nói rõ bài này theo cách hiểu nào. Trong thực tế, thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian có lịch sử lâu dài, nhưng mức độ tổ chức và tính hệ thống của nó khiến nhiều nhà nghiên cứu xem nó như một tôn giáo dân gian.
{sư} Theo nhận định của Nguyễn Hữu Thụ (2019), tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ thuộc loại hình tín ngưỡng dân gian đã ra đời từ rất sớm, và qua thời gian đã biến đổi để phản ánh những chuyển động của xã hội Việt Nam trong từng giai đoạn[2]. Giai đoạn trước thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu mang đậm dấu ấn của nền kinh tế nông nghiệp; từ sau thế kỷ XVI, nó dần nghiêng về phản ánh nền kinh tế hàng hóa cùng vị thế đang lên của giới thương nhân, điều này thể hiện qua hình ảnh Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Tam Tòa Thánh Mẫu[2].
Vào năm 2004, Nguyễn Quốc Tuấn đã nêu vấn đề rằng nếu nhìn vào bản chất của các phương diện thể hiện, việc thờ phụng Mẫu Liễu Hạnh có thể được coi là một thực thể và hành động tôn giáo mang tính đại chúng, chẳng khác gì những tôn giáo lớn[3]. Ông xây dựng giả thuyết về sự tương tác giữa Phật giáo (Mật tông, Tịnh Độ tông), Đạo giáo, Khổng giáo và tín ngưỡng bản địa trong việc hình thành một số tôn giáo nội sinh[3]. Đây là giả thuyết công tác của một tác giả, chưa phải kết luận được giới nghiên cứu đồng thuận hoàn toàn.
{sư} Về phía Mai Thị Hạnh (2019), bà xác định niềm tin vào sức mạnh thiêng liêng của các thánh Mẫu chính là thờ Mẫu, trong khi phần thực hành của tín ngưỡng này trải rộng từ tu dưỡng đạo đức, cúng bái, quỳ lạy, đi lễ xa cho tới lên đồng; các nghi lễ tiêu biểu gồm trình đồng mở phủ, di cung hoán số, hát văn hầu Thánh và lễ hội tưởng nhớ ngày sinh hóa của các thánh[4]. Trong đó hầu đồng là nghi lễ quan trọng nhất[4].
{sư} Khác với các tôn giáo có kinh sách ghi chép, các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu lại được truyền khẩu qua các đồng thầy[4]. Đồng thầy là người thành lập bản hội, quyết định hoạt động và sự tồn vong của bản hội, nắm quyền lực mạnh mẽ trong cộng đồng tín đồ[4]. Đây là điểm khác so với các tôn giáo có cơ cấu tổ chức chặt chẽ[4].
{sư} Trước kia, việc thờ Mẫu nói chung cũng như hầu đồng nói riêng từng bị quy kết là mê tín dị đoan và bị ngăn cấm; nhờ bối cảnh kinh tế xã hội cùng chính sách tôn giáo ở thời điểm hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã có điều kiện hồi phục mạnh mẽ[4].
Tín ngưỡng thờ Mẫu lan tỏa theo các cộng đồng di cư như thế nào?
Tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ tồn tại ở đồng bằng Bắc Bộ, mà đi theo các cộng đồng di cư vào Nam và lên các vùng cao nguyên.
{sư} Theo ghi nhận của Bùi Thị Thoa (2019), tín ngưỡng thờ Mẫu đã chính thức có mặt tại Đà Lạt từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, gắn với quá trình di cư, tụ cư và hình thành cộng đồng người Việt trên cao nguyên Lâm Viên[5]. Thời điểm ra đời của hai dạng thức thờ Mẫu miền Bắc (với Thánh Mẫu Liễu Hạnh giữ vai trò chủ đạo) và miền Trung (với Thánh Mẫu Thiên Ya Na giữ vai trò chủ đạo) gần như trùng nhau[5]. Đà Lạt có ngôi đền Mẫu đầu tiên được xây dựng và thờ tự biệt lập là Đền Thánh Mẫu Thiên Ya Na, kiến trúc theo dạng thức thờ Mẫu miền Trung, Thánh Mẫu Thiên Ya Na ngự chính cung, bên tả ban thờ Mẫu Thượng Ngàn, bên hữu ban thờ Mẫu Thoải[5]. Ngôi đền được lập làm nơi sinh hoạt tâm linh cho bộ phận người Việt gốc các tỉnh miền Trung, chủ yếu là người Huế[5].
{sư} Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng tạo ra các tác động kinh tế cho cộng đồng dân cư quanh các cơ sở thờ Mẫu, như Làng Cổ Mễ (Từ Sơn, Bắc Ninh cũ), Phủ Giầy (Nam Định cũ), Đền Sòng Sơn (Thanh Hóa), Đền ông Hoàng Mười (Hà Tĩnh), Đền Hoàng Bảy (Lào Cai), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Đền Mẫu Thượng Ngàn (Yên Bái cũ), Đền Chúa Thác Bờ (Hòa Bình)[2].
Tín ngưỡng thờ Hùng Vương và các tín ngưỡng được quốc tế ghi nhận
Thờ cúng Hùng Vương là ví dụ rõ nhất cho lớp tín ngưỡng vừa mang tính tổ tiên, vừa mang tính quốc gia.
{sư} Hồ sơ đề cử của Nhà nước Việt Nam gửi UNESCO năm 2012 cho thấy tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được đệ trình như một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo gồm các công trình của Nguyễn Chí Bền (2011), Tạ Chí Đại Trường (1989), Toan Ánh (1974), Trần Quốc Vượng (1998)[6]. Hồ sơ do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh ký ngày 15 tháng 5 năm 2012[6].
Bảng đối chiếu các lớp tín ngưỡng chính của người Việt
| Lớp tín ngưỡng | Đối tượng thờ | Không gian thờ | Đặc điểm nổi bật |
|---|---|---|---|
| Thờ cúng tổ tiên | Ông bà, cha mẹ quá cố | Bàn thờ trong nhà | Phổ biến nhất, gần như mọi gia đình |
| Thờ Thành hoàng | Thần bảo hộ làng | Đình làng | Gắn với lễ hội làng, có thần tích Hán Nôm |
| Thờ Mẫu, Đạo Mẫu | Thánh Mẫu, Tam Tòa Thánh Mẫu | Phủ, đền, điện tư gia | Có nghi lễ hầu đồng, hát văn, bản hội |
| Thờ Hùng Vương | Các vua Hùng | Đền Hùng và đền phụng sự | Hồ sơ UNESCO 2012 |
| Thờ nghề nghiệp | Tổ nghề, thần nghề | Đình, miếu, cơ sở nghề | Gắn với phường nghề truyền thống |
| Tín ngưỡng nông nghiệp | Thần nông, thần lúa, thần mưa | Đình, miếu, ruộng | Gắn với chu kỳ mùa vụ |
Tín ngưỡng dân gian khác biệt với tôn giáo tổ chức ở điểm nào?
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở cấu trúc tổ chức và hệ thống giáo lý. Tín ngưỡng dân gian thường không có giáo chủ, không có kinh điển thống nhất, không có giáo hội tập trung, mà truyền khẩu và thực hành theo cộng đồng địa phương. Tôn giáo tổ chức có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức chặt chẽ.
{sư} Malinowski (1925) nhận xét rằng tính chất lễ hội và công cộng của các nghi lễ là đặc điểm nổi bật của tôn giáo nói chung, và trong các xã hội nguyên thủy, tính công cộng của thờ cúng cũng rõ rệt không kém gì các nền văn hóa cao[7]. Các nghi lễ sinh nở, nhập đạo, tang ma, cúng giỗ, hiến tế và nghi lễ totem đều mang tính công cộng và tập thể[7]. Nhận xét này giúp lý giải vì sao tín ngưỡng dân gian Việt Nam, dù không có giáo hội, vẫn có tính cộng đồng rất mạnh.
Người Việt có thể theo nhiều tín ngưỡng cùng lúc không?
Có. Đây là đặc điểm phổ biến và được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu. Một người có thể vừa thờ tổ tiên tại nhà, vừa đi lễ chùa, vừa đi lễ đền Mẫu, vừa tham gia lễ hội đình làng, mà không cảm thấy mâu thuẫn. Các lớp tín ngưỡng này không loại trừ nhau.
{sư} Nguyễn Hữu Thụ (2019) ghi nhận với tín đồ của tín ngưỡng thờ Mẫu, niềm tin vào thần linh Tứ phủ đóng vai trò quan trọng giúp họ yên tâm, tự tin thực hiện các hoạt động kinh tế trong đời sống thực[2]. Tuy vậy, tác giả cũng lưu ý rằng chính hành động của bản thân họ mới là yếu tố quyết định phần lớn kết quả cuối cùng; lộc Thánh đơn thuần đóng vai trò chỗ dựa tinh thần, tức khoản vốn ban đầu do Thánh trao mà thôi[2].
Kết luận: trả lời ngắn gọn câu hỏi người Việt theo tín ngưỡng nào
Người Việt không theo một tín ngưỡng duy nhất. Họ thực hành một chồng lớp tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên trong nhà, thờ Thành hoàng ở đình làng, thờ Mẫu ở phủ đền, thờ Hùng Vương ở đền Hùng, thờ tổ nghề ở phường nghề, và các lễ nghi nông nghiệp theo mùa vụ. Các lớp này không loại trừ nhau và thường cùng tồn tại trong một gia đình, một cộng đồng. Về mặt pháp lý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 phân biệt rõ tín ngưỡng với tôn giáo dựa trên tiêu chí tổ chức và hệ thống giáo lý. Vì vậy, câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi người Việt theo tín ngưỡng nào là: phần lớn người Việt thực hành nhiều tín ngưỡng dân gian cùng lúc, chứ không theo một danh xưng duy nhất.