
TL;DR: Nguyệt Kỵ là ba ngày mùng 5, 14, 23 âm lịch mỗi tháng mà dân gian kiêng làm việc lớn, còn Dương Công kỵ nhật là mười ba ngày rải trong năm mà thông thư xưa ghi là không nên đi xa, làm việc lớn. Chính Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, bộ sách chọn ngày do triều Thanh biên soạn, lại xếp Dương Công kỵ vào phần Biện ngoa để bác bỏ, còn Nguyệt Kỵ được giữ ở phần Nghĩa lệ với lời giải là tránh số 5 của cung giữa. Đọc kỹ hai mục ấy cho thấy người xưa phân biệt rõ giữa lệ cũ có căn cứ và tục thuyết do thầy số đặt ra để làm lợi.
Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật là gì?
Nguyệt Kỵ (月忌) và Dương Công kỵ nhật (楊公忌) là hai nhóm ngày kiêng cữ quen thuộc trong lịch chọn ngày của người Việt, thường được ghi ở cuối các tờ lịch bloc hoặc trong những cuốn sách chọn ngày bán ở hiệu sách. Nguyệt Kỵ là ba ngày mùng 5, 14 và 23 âm lịch của mỗi tháng; Dương Công kỵ nhật là mười ba ngày rải rác trong năm, khởi từ mùng 13 tháng Giêng, rồi mùng 11 tháng Hai, cho tới 19 tháng Chạp.
Điều ít người để ý là cả hai nhóm ngày này đều được bàn tới trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (欽定協紀辨方書), bộ sách chọn ngày lớn do Doãn Lộc, một vương thân nhà Thanh, phụng sắc biên soạn cùng nhiều cộng sự, hoàn thành năm 1741 và được đưa vào Tứ khố toàn thư[1]. Nhưng cách bộ sách ấy xử lý hai nhóm ngày lại rất khác nhau, và đó chính là chỗ đáng đọc.
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư là sách gì và có gì đặc biệt?
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư là bộ sách chọn ngày do triều đình nhà Thanh tổ chức biên soạn, gồm 36 quyển, do Doãn Lộc cùng các cộng sự thực hiện và hoàn thành năm 1741, nay còn trong Tứ khố toàn thư[1].
Điểm đặc biệt của bộ sách này là nó không chỉ liệt kê ngày tốt xấu như những cuốn thông thư dân gian, mà còn có hẳn một quyển mang tên Biện ngoa (辨譌), nghĩa là phân biệt cái sai lệch, để bác bỏ những thuyết mà người biên soạn cho là nguỵ tạo. Trong phần mở đầu của quyển ấy, người biên soạn viết rằng thầy số vốn ưa chuyện lạ và ham lợi, nên lời nguỵ tạo nở rộ, cái người này cho là tốt thì kẻ kia cho là xấu, từ đời Hán đã có tình trạng ấy, huống chi qua sáu triều đại rồi Đường, Tống, Nguyên, Minh thì những thuyết sai lầm không biết bao nhiêu mà kể[1].
Đoạn ấy cho thấy chính người xưa đã ý thức rằng lịch chọn ngày là một hệ thống hỗn tạp, do nhiều phái dựng nên, chứa nhiều mâu thuẫn. Bản dịch tiếng Việt của Mai Cốc Thành chủ biên, Vũ Hoàng và Lân Bình dịch, do Nhà xuất bản Mũi Cà Mau ấn hành năm 1998, cũng mở đầu bằng nhận định đại ý rằng thuật trạch cát là một hệ thống phức tạp, có thể nói là hỗn tạp, vì được hợp thành từ nhiều nguồn, nhiều nhà, nhiều phái nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn[2].
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chép Nguyệt Kỵ như thế nào?
Bộ sách bàn Nguyệt Kỵ ở quyển 6, phần Nghĩa lệ, chứ không ở quyển Biện ngoa, nghĩa là giữ nó lại như một lệ có nghĩa lý[3].
Mục ấy gom nhiều lời cũ. Lịch lệ ghi rằng ngày Nguyệt Kỵ chỉ ghi các việc tế tự, yến hội, tắm gội, sửa sang dung mạo, cắt tóc, cắt móng, chữa bệnh, sửa tường, quét nhà, sửa đường, phá nhà đổ tường, các việc khác không ghi. Tề Đông dã ngữ chép rằng tục lấy mùng 5, 14, 23 mỗi tháng làm Nguyệt Kỵ, việc gì cũng tránh, thuyết ấy không có căn cứ; rồi dẫn lời Vệ Đạo Phu rằng ba ngày ấy ứng với số 5 ở cung giữa của Hà Đồ, 5 là tượng vua nên dân thường không dùng, và cho là khá có lý. Thông thư thì cho rằng những ngày ấy Ngũ Hoàng vào cung giữa, phối với sao Liêm Trinh. Khảo nguyên giải thêm: từ mùng 1 tới mùng 5 là năm số, từ mùng 5 tới 14 và từ 14 tới 23 đều cách chín ngày, thành số chín năm, nên đời không dám dùng[3].
Lời án của người biên soạn chốt lại: nghĩa của Nguyệt Kỵ ở thuyết cung giữa Ngũ Hoàng là đúng, còn thuyết Liêm Trinh sinh thổ thì không tin được; kiêng ngày ấy là tránh chỗ tôn, như cung điện, quan nha dùng hướng chính Tý Ngọ mà nhà dân không dám dùng, lấy thấp phạm cao thì hung. Nhà nước cũng không dùng những ngày ấy, vì việc nước tất liên lụy tới thần dân[3]. Như vậy Nguyệt Kỵ được giữ vì một lý do của lễ, không phải vì một phép tính thiên văn.
Dương Công kỵ nhật là ngày nào và vì sao Hiệp Kỷ Biện Phương Thư lại bác?
Bộ sách xếp Dương Công kỵ nhật vào phần Biện ngoa, tức phần bác bỏ cái sai, chứ không phải phần liệt kê ngày kiêng để tuân theo.
Đây là điểm quan trọng nhất mà nhiều người đọc lịch bloc không hề biết. Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chép rõ rằng dân gian phần nhiều sợ ngày Dương Công kỵ, thông thư cũng chép nhiều, cho rằng ngày ấy không nên đi xa, làm việc lớn, phạm vào thì bất lợi, nhưng tất cả đều vì chưa hiểu rõ căn nguyên nên mới bị mê hoặc[1].
Người biên soạn giải thích căn nguyên ấy như sau: theo thuyết lưu truyền, Dương Công kỵ là ngày sao Thất (室) thuộc chòm Huyền Vũ, tức sao Thất Hỏa Trư. Cách tính là khởi từ sao Giác vào ngày mùng 1 tháng Giêng, rồi theo thứ tự hai mươi tám tú mà đếm, ngày nào gặp sao Thất thì gọi là Dương Công kỵ. Không kể tháng đủ hay thiếu, cứ hai mươi tám ngày một vòng, mỗi tháng lùi hai ngày, thành ra mùng 13 tháng Giêng, mùng 11 tháng Hai, cho tới mùng 1 và 29 tháng Bảy, rồi dừng ở 19 tháng Chạp, tổng cộng mười ba ngày trong năm[1].
Nhưng Hiệp Kỷ Biện Phương Thư phản bác ngay chính cách tính ấy. Bộ sách lập luận rằng lấy sao trực ngày để luận cát hung thì cũng như lấy can chi để ghi ngày, tuy chưa chắc khởi từ Đại Náo nhưng đã có từ lâu, mỗi ngày một sao, thứ tự tự nhiên, không cần sắp đặt, lấy đó mà luận tránh né thì còn có thể nói được. Nhưng chưa từng nghe nói ngày sao Thất đứng trực lại có điều kiêng kỵ gì. Huống chi sao dùng ở đây không phải sao thật sự trực ngày, mà là cưỡng lấy sao Giác khởi từ ngày đầu năm, mỗi năm khởi lại một lần, không luân chuyển được, vốn đã không thông. Lại thêm, nếu tháng Giêng là tháng thiếu thì ngày 11 tháng Hai lại là sao Nguy, tháng Hai lại thiếu nữa thì mùng 9 tháng Ba lại là sao Hư, làm sao cứ khăng khăng gọi là Thất Hỏa Trư cho được[1].
Bộ sách còn dẫn chứng từ kinh điển để phản bác. Sách Tấn chí nói rằng Doanh Thất là Nguyên cung, còn gọi là Thanh miếu, ắt không phải sao hung. Kinh Thi có câu Định chi phương trung, tác vu Sở cung, tức là nói về việc xem sao Định mà khởi công xây dựng, chứ đâu có nói là kiêng. Nhĩ Nhã nói rằng Doanh Thất gọi là Định, người xưa xem sao Doanh Thất ở giữa trời mà khởi thổ công, chưa từng lấy đó làm kiêng[1].
Và bộ sách kết luận bằng một câu nặng nề: nếu lấy cớ là sao thuộc hành Hỏa, thì Vĩ, Thất, Chủy, Dực đều là sao thuộc Hỏa, cớ sao chỉ kiêng sao Thất? Nếu lấy cớ là sao thuộc hình con lợn, thì sao vốn là hình tượng cung trời, không phải hình con vật, lẽ nào lại gán thực thành con lợn? Thuyết tà dối ấy làm mê hoặc dân chúng, không gì quá hơn thế[1].
Vì sao một bộ sách chọn ngày lại đi bác bỏ chính những ngày kiêng cữ?
Câu trả lời nằm ở mục đích biên soạn của Hiệp Kỷ Biện Phương Thư. Đây là sách do triều đình nhà Thanh tổ chức biên soạn, phụng sắc, tức là làm theo lệnh vua, nhằm thống nhất cách chọn ngày trong toàn quốc. Một bộ sách như vậy không thể để cho hàng trăm thuyết kiêng cữ mâu thuẫn nhau cùng tồn tại, vì như thế thì mỗi thầy số một cách, mỗi địa phương một lệ, không ai kiểm chứng được.
Quyển Biện ngoa bác hơn hai mươi thuyết, như tháng đại lợi cho nam nữ hợp hôn, hai mươi bốn thần sát tuần sơn, đao châm hỏa huyết, hồng sa, băng tiêu ngõa giải diệt môn đại họa, Dương Công kỵ, Thiên cẩu, cửu tiên thời[1].
Danh sách ấy cho thấy Dương Công kỵ nhật không phải là trường hợp cá biệt, mà nằm trong một loạt thuyết bị bộ sách xếp vào diện cần bác bỏ. Cách làm này cũng là một truyền thống trong giới nghiên cứu thuật số Trung Hoa. Tưởng Đại Hồng đời Minh Thanh, trong sách Bình sa ngọc xích biện nguỵ (平砂玉尺辨偽), đã bác sách Bình sa ngọc xích kinh là nguỵ thư, dùng tiêu chí hợp với bí yếu của tiền nhân và có nghiệm với mộ trạch danh gia hay không để phân biệt thật giả[4]. Cách lập luận trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư cũng theo tinh thần ấy: lấy lý để biện, lấy kinh điển để đối chiếu, chứ không lặp lại lời đồn.
Bảng đối chiếu Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật
| Tiêu chí | Nguyệt Kỵ | Dương Công kỵ nhật |
|---|---|---|
| Số ngày | 3 ngày mỗi tháng (mùng 5, 14, 23) | 13 ngày rải trong năm, tháng Bảy có hai ngày |
| Cách xác định | Ba ngày ứng số 5 của cung giữa (Ngũ Hoàng nhập trung cung) | Ngày gặp sao Thất khi đếm hai mươi tám tú từ sao Giác ở mùng 1 tháng Giêng |
| Thái độ của Hiệp Kỷ Biện Phương Thư | Giữ ở quyển 6 (Nghĩa lệ), giải là tránh chỗ tôn | Xếp vào phần Biện ngoa, bác bỏ rõ ràng |
| Lý do bị bác | Không bị bác | Cách tính không luân chuyển được, gán ghép sao không đúng, dẫn kinh điển không thấy kiêng |
| Mức độ phổ biến trong dân gian Việt Nam | Rất phổ biến, ghi trên lịch bloc | Phổ biến, thường ghi trong sách chọn ngày |
Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật có phải là tri thức Việt Nam không?
Cả hai khái niệm đều có gốc ở sách chọn ngày chữ Hán: Hiệp Kỷ Biện Phương Thư dẫn Tề Đông dã ngữ đời Tống về tục kiêng mùng 5, 14, 23, và nói thông thư thời ấy đã chép nhiều về Dương Công kỵ[1][3].
Ở Việt Nam, Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật được phổ biến rộng rãi qua lịch bloc, qua các cuốn sách chọn ngày bán ở hiệu sách, và qua truyền miệng trong dân gian. Nhưng cần phân biệt rõ: đây là những khái niệm có nguồn gốc từ sách chọn ngày Trung Hoa, du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hoá, chứ không phải là tri thức bản địa. Điều này không làm giảm giá trị của chúng như một phần của văn hoá Việt Nam đương đại, nhưng nó giúp người đọc hiểu đúng bối cảnh hình thành.
Một số tài liệu phổ biến cho rằng Dương Công kỵ nhật gắn với một nhân vật tên Dương Công nào đó trong lịch sử, nhưng Hiệp Kỷ Biện Phương Thư nói thẳng rằng không biết Dương Công là người nào, và cho rằng thuyết ấy có lẽ cùng xuất xứ với thuyết mật nhật từ Tây Vực, nơi dân tộc ấy ghét con lợn, nghe tiếng đã chán, nên kiêng luôn, nhưng không thể đem áp dụng vào Trung Quốc[1]. Đây là một ví dụ về việc người xưa truy nguyên nguồn gốc của một tục kiêng cữ và tìm cách lý giải nó bằng bối cảnh văn hoá cụ thể, thay vì thần thánh hoá nó.
Người xưa phân biệt lệ cũ và tục thuyết như thế nào?
Sách phân biệt giữa những quy ước có cơ sở trong cách tính lịch pháp và những thuyết do thầy số đặt ra để làm lợi, gọi nhóm sau là nguỵ thuyết và đưa vào phần Biện ngoa[1].
Cách phân biệt ấy thể hiện ở tiêu chí: một lệ được giữ nếu nó có nghĩa lý trong cách tính hay trong lễ; một thuyết bị bác nếu nó dựa trên gán ghép tuỳ tiện, không luân chuyển được, hoặc mâu thuẫn với kinh điển. Dương Công kỵ nhật bị bác vì cách tính không luân chuyển được và gán ghép sao không đúng. Nguyệt Kỵ được giữ vì sách thấy nghĩa của nó ở thuyết cung giữa Ngũ Hoàng, dù bản thân quy ước ấy vẫn là quy ước của môn trạch cát, không phải sự thật tự nhiên.
Cách phân biệt này cũng là một bài học cho người đọc lịch chọn ngày hôm nay. Khi một cuốn lịch ghi ngày nào đó là ngày kiêng, người đọc nên hỏi: ngày ấy được xác định bằng cách nào, có cơ sở trong cách tính lịch pháp không, hay chỉ là lời truyền miệng. Và nếu là lời truyền miệng, thì nó thuộc nhóm nào: lệ cũ có cơ sở, hay tục thuyết do thầy số đặt ra.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Khi tra lịch để chọn ngày làm việc lớn, người đọc có thể tham khảo Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật như một phần của lệ cũ, nhưng nên biết rằng chính Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, bộ sách chọn ngày do triều Thanh khâm định, đã xếp Dương Công kỵ nhật vào diện nguỵ thuyết cần bác bỏ. Điều này không có nghĩa là phải bỏ hẳn hai khái niệm ấy, mà là nên hiểu đúng vị trí của chúng: Nguyệt Kỵ là lệ cũ được chính bộ sách ấy giữ lại và giải nghĩa, Dương Công kỵ nhật là tục thuyết đã bị chính sách chọn ngày xưa nghi ngờ. Với những việc hệ trọng như cưới hỏi, khởi công, ký kết, yếu tố quyết định vẫn là sự chuẩn bị thực tế và sự thống nhất giữa các bên, chứ không phải một ngày được ghi kiêng trên tờ lịch.
