
TL;DR: Nhị thập bát tú trực nhật là phép gán mỗi ngày trong tuần hoàn can chi một trong 28 tú, dựa trên chu kỳ 420 ngày gồm bảy nguyên Giáp Tý. Bảy nguyên ấy lần lượt khởi ở Hư, Khuê, Tất, Quỷ, Dực, Đê, Cơ, và Hiệp kỷ biện phương thư truy gốc phép này về Tú diệu kinh của Tây vực, phê rằng mốc khởi nguyên không khảo được, nhưng vẫn cho rằng không nên bỏ.
Nhị thập bát tú trực nhật là gì?
Nhị thập bát tú trực nhật là phép gán mỗi ngày trong vòng can chi một trong 28 tú, để biết ngày ấy thuộc tú nào mà luận cát hung. Cách phối này không chạy theo tháng hay theo tiết khí, mà chạy theo một chu kỳ riêng gọi là bảy nguyên Giáp Tý, dài 420 ngày. Hiệp kỷ biện phương thư, bộ sách chọn ngày soạn theo lệnh vua Càn Long (bản Tứ khố ghi Doãn Lộc phụng sắc năm 1741, bản dịch tiếng Việt ghi Mai Cốc Thành chủ biên), chép phép này ở mục Nhị thập bát tú phối nhật (二十八宿配日)[1]. Sách vừa phê chỗ yếu của phép, vừa kết luận rằng không nên bỏ.
Cần phân biệt hai việc khác nhau. Một là 28 tú như một hệ thống sao dùng để định vị trời đất, có mặt trong la bàn phong thủy với các vòng như Nhị thập bát tú phân độ, Nhị thập bát tú phân độ cát hung, Nhị thập bát tú giới hạn. Hai là 28 tú trực nhật, tức gán tú vào ngày như một thần sát của lịch chọn ngày. Bài này nói về việc thứ hai.
Vì sao lại có chu kỳ 420 ngày?
Con số 420 không phải số đặt tùy ý. Hiệp kỷ biện phương thư dẫn lời khảo nguyên giải thích rằng ngày có sáu mươi, tú có hai mươi tám, mà bốn trăm hai mươi là bội chung nhỏ nhất của sáu mươi và hai mươi tám, nên lấy 420 ngày làm một chu kỳ. Trong 420 ngày ấy, vòng can chi chạy được đúng bảy vòng 60 ngày, và vòng 28 tú chạy được đúng mười lăm vòng 28 ngày. Bảy vòng can chi ấy chính là bảy nguyên Giáp Tý.
Phép này lợi dụng chỗ 60 và 28 có bội chung nhỏ nhất là 420 để tạo ra một lịch phối ghép khép kín: cứ bảy lần gặp ngày Giáp Tý thì vòng tú trở về đúng chỗ cũ. Nếu không có tính chất chia hết ấy, hai vòng sẽ trôi lệch nhau mãi và không bao giờ lập được bảng cố định.
Bảy nguyên Giáp Tý khởi ở những tú nào?
Điểm cốt lõi của phép này là bảy ngày Giáp Tý trong một chu kỳ 420 ngày không cùng khởi ở một tú, mà lần lượt khởi ở bảy tú khác nhau. Hiệp kỷ biện phương thư ghi trình tự ấy như sau[1]:
| Nguyên | Ngày Giáp Tý khởi ở tú |
|---|---|
| Nguyên một | Hư |
| Nguyên hai | Khuê |
| Nguyên ba | Tất |
| Nguyên bốn | Quỷ |
| Nguyên năm | Dực |
| Nguyên sáu | Đê |
| Nguyên bảy | Cơ |
Hết bảy nguyên, ngày Giáp Tý lại khởi ở Hư, và chu kỳ mới quay trở lại từ đầu. Bảng trên là toàn bộ quy tắc gốc: chỉ cần biết ngày đang xét nằm ở nguyên thứ mấy, và cách ngày Giáp Tý đầu nguyên bao nhiêu ngày, là suy ra được tú trực ngày ấy. Ví dụ, nếu một ngày Giáp Tý khởi ở Khuê, thì ngày Ất Sửu kế tiếp là Lâu, ngày Bính Dần là Vị, cứ thế cộng dồn theo đúng thứ tự 28 tú.
Phép này từ đâu ra và chữ giữa trong tên tú là gì?
Hiệp kỷ kể rằng đọc khắp các sách không tra ra gốc, tới khi gặp Tú diệu kinh của Tây vực mới hiểu: các nước ấy không dùng can chi mà lấy 28 tú để ghi ngày, và gắn thất chính (Nhật, Nguyệt, Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ) vào 28 tú như gắn can vào chi, chứ không phải bảy diệu thật sự đi qua tú ấy[1]. Sách kê bốn tú cho mỗi diệu: Hư, Mão (昴), Tinh, Phòng thuộc Nhật; Nguy, Tất, Trương, Tâm thuộc Nguyệt; Thất, Chủy, Dực, Vĩ thuộc Hỏa; Bích, Sâm, Chẩn, Cơ thuộc Thủy; Khuê, Tỉnh, Giác, Đẩu thuộc Mộc; Lâu, Quỷ, Cang, Ngưu thuộc Kim; Vị, Liễu, Đê, Nữ thuộc Thổ[1]. Vì thế chữ giữa trong những tên ba chữ như Giác Mộc Giao, Phòng Nhật Thố là một trong thất diệu, không phải ngũ hành, và sách ghi bảy nguyên Giáp Tý xoay vòng khớp đúng với phép ấy.
Hiệp kỷ biện phương thư phê phép này thế nào?
Đây là phần đáng chú ý nhất, vì sách ghi phép rồi lại phê phép. Hiệp kỷ biện phương thư không ngần ngại nói rằng không thể khảo sát được nguyên một khởi đầu từ năm tháng ngày nào[1]. Nghĩa là bảy nguyên ấy có mốc khởi đầu, nhưng mốc khởi đầu ấy không truy được về một thời điểm xác định trong lịch sử.
Sách còn đối chiếu với vận hành thật của trời: nhật nguyệt ngũ tinh đi qua 28 xá với tốc độ nhanh chậm không bằng nhau, độ thứ triển hành đều khác nhau, xen kẽ vào nhau không đều, có khi cầm giữ chậm lại, có khi phục xuống nghịch lại. Vì thế, dù từ lịch ban đầu suy ra tất có năm tháng ngày giờ, nhưng chỉ ít lâu sau, mặt trăng sẽ vượt quá độ của nó. Phép gán tú vào ngày bằng một chu kỳ số học cứng không khớp với chuyển động thật của các sao.
Sách cũng phê riêng phép Phục đoạn, một phép dùng bốn kim tú Cang, Ngưu, Lâu, Quỷ làm giờ Phục đoạn, và nhận xét rằng phép ấy tuy nói có bảy nguyên nhưng nghĩa lý nói còn không thông suốt, số thứ tự cũng không ăn khớp, nên hiện tại chọn giờ không dùng phép này[4]. Lời phê ấy cho thấy ngay trong truyền thống chọn ngày, đã có người không chấp nhận lối phối cứng này.
Dù vậy, sách không bỏ phép này. Hiệp kỷ cho biết lịch hằng năm vẫn chú tú bên cạnh sáu mươi Giáp Tý, trong các thần sát chỉ có Phục đoạn và Ám kim khởi lệ từ đây; và vì các nước Tây vực dùng 28 tú để ghi ngày, giữ phép này giúp người ở phương xa cùng biết một ngày là ngày Giáp Tý nào, nên sách kết luận là thật có ích, không thể bỏ (甚為有益,良不可廢)[1].
Cầm tinh dị kiến và Diễn cầm phú nói gì?
Cầm tinh dị kiến là sách diễn cầm của Trì Bản Lý người Cám Châu đời Minh. Đề yếu Tứ khố cho biết sách chuyên lấy cục thất nguyên Giáp Tý, dùng phép phiên cầm đảo tướng để suy ngày giờ lành dữ; có người cho rằng phép ấy khởi từ Trương Lương và là bí truyền của nhà binh, nhưng Đề yếu gọi đó là lời phụ hội, và nói sách xem được mọi việc được mất của người, còn chuyện chọn giờ đóng quân dựng trại chỉ thỉnh thoảng nhắc tới (特間一及之)[2]. Đề yếu cũng ghi một chỗ sách khác các nhà sao: sách lấy Đẩu Mộc là con cua (蟹), không phải con giải trãi (獬)[2].
Bài Diễn cầm phú chép kèm sách mở đầu bằng câu xem việc người lành dữ thì đếm 28 tú trên bàn tay (以二十八宿于掌演之), rồi chia 28 tú thành bốn nhóm bảy theo chi ngày: Hư, Khuê, Tất, Quỷ, Dực, Đê, Cơ là sao của ngày Thân, Tý, Thìn; Nguy, Lâu, Chủy, Liễu, Chẩn, Phòng, Đẩu của ngày Tị, Dậu, Sửu; Thất, Vị, Sâm, Tinh, Giác, Tâm, Ngưu của ngày Dần, Ngọ, Tuất; Bích, Mão (昴), Tỉnh, Trương, Cang, Vĩ, Nữ của ngày Hợi, Mão, Mùi. Bảy sao của nhóm đầu chính là bảy tú khởi bảy nguyên Giáp Tý.
Phép này khác gì với các vòng tú trên la bàn?
Cần tách bạch ba lớp khác nhau, vì người mới học hay lẫn.
Lớp thứ nhất là 28 tú như hệ thống sao chia bầu trời, gắn với bốn tượng Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, mỗi tượng bảy tú. Đây là lớp thiên văn cổ, dùng để định vị.
Lớp thứ hai là các vòng tú trên la bàn. Sách Sử dụng la bàn của Thanh Thủy liệt kê nhiều vòng liên quan tới 28 tú trên các loại la bàn khác nhau, như vòng Nhị thập bát tú phân độ, vòng Nhị thập bát tú phân độ cát hung, vòng Nhị thập bát tú giới hạn, và ở la bàn 36 vòng còn có vòng Nhị thập bát tú phân dã. Đây là lớp dùng để đo hướng, không phải để gán tú vào ngày.
Lớp thứ ba mới là nhị thập bát tú trực nhật, tức gán tú vào ngày theo bảy nguyên Giáp Tý. Lớp này thuộc lịch chọn ngày, không thuộc la bàn. Ba lớp có chung một danh sách 28 tú, nhưng quy tắc vận hành hoàn toàn khác nhau, không nên lấy lớp này giải thích lớp kia.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: dùng phép này thế nào cho phải?
Thứ nhất, nên coi nhị thập bát tú trực nhật là một quy ước của sách chọn ngày, không phải một dữ kiện thiên văn. Chính Hiệp kỷ biện phương thư đã nói rõ mốc khởi nguyên không khảo được và vận hành thật của sao không khớp với chu kỳ cứng. Vì thế, nếu ai đó trình bày phép này như thể nó phản ánh đúng vị trí các sao trên trời, thì nên đọc lại lời phê của sách gốc.
Thứ hai, mốc khởi nguyên không khảo được, nhưng lịch hiện hành không phải đoán mốc: vòng 28 tú khóa với tuần bảy ngày qua chữ thất diệu, nên bốn tú thuộc Nhật (Phòng, Hư, Mão, Tinh) luôn rơi vào Chủ nhật, bốn tú thuộc Nguyệt rơi vào thứ Hai. Lệch mốc một ngày là lệch cả tuần, nên nhìn thứ trong tuần là kiểm được bảng tra.
Thứ ba, phép này chỉ nên là một lớp tham khảo mỏng trong việc xem ngày, không nên là căn cứ duy nhất để quyết định việc lớn.
Tóm lại
Nhị thập bát tú trực nhật là phép phối 28 tú vào ngày theo chu kỳ 420 ngày gồm bảy nguyên Giáp Tý, với bảy nguyên lần lượt khởi ở Hư, Khuê, Tất, Quỷ, Dực, Đê, Cơ. Hiệp kỷ biện phương thư truy gốc phép này về Tú diệu kinh của Tây vực, phê rằng mốc khởi nguyên không khảo được và phép không khớp vận hành thật của sao, nhưng vẫn cho rằng không nên bỏ. Vì vậy, đây là một quy ước của sách chọn ngày, dùng để tham khảo có ghi rõ quy ước, chứ không phải một dữ kiện thiên văn hay một căn cứ duy nhất để quyết định việc lớn.
