
TL;DR: Quẻ Thủy Địa Tỷ (比) là quẻ thứ 8 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên Khảm (Nước), quẻ dưới Khôn (Đất). Quái từ chép: "Tỷ: Cát. Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh, vô cữu. Bất ninh phương lai, hậu phu hung." Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi gặp quẻ này, có thể nhìn lại các mối quan hệ gắn bó và sự chân thành, giữ chính bền, tránh gắn bó nhầm người; đây là gợi ý để suy ngẫm, không phải chỉ định kết quả.
Quẻ Thủy Địa Tỷ là gì?
Quẻ Thủy Địa Tỷ (水地比), gọi tắt là quẻ Tỷ, là quẻ thứ 8 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch. Quẻ gồm quẻ trên là Khảm (Nước) và quẻ dưới là Khôn (Đất). Tên quẻ 比 (tỷ) mang nghĩa gần gũi, thân cận, nương tựa vào nhau.
Nguồn gốc và cấu trúc của quẻ Tỷ ra sao?
Nguồn gốc văn bản
Nghiên cứu hiện đại (Edward Shaughnessy; Redmond và Hon, Teaching the I Ching, 2014) xếp phần kinh sớm nhất của Chu Dịch vào đời Tây Chu, khoảng cuối thế kỷ 9 TCN. Truyền thống quy cho Phục Hy vạch quẻ, Văn Vương đặt lời quẻ, Chu Công đặt lời hào, Khổng Tử viết Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi các quy kết ấy là đã chứng minh, và thường xếp Thập Dực vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nêu giả thuyết rằng Kinh Dịch thuộc về một nền văn minh tối cổ có trước lịch sử đã biết, ông gọi là "Văn minh Atlantic". Đây là giả thuyết của một người; giới nghiên cứu chính thống không chấp nhận nó.
Cấu trúc quẻ
Quẻ Thủy Địa Tỷ gồm hai phần:
- Ngoại quái (quẻ trên): Khảm (☵) tượng trưng cho Nước, cho vực sâu, và cũng là biểu tượng của sự lưu chuyển.
- Nội quái (quẻ dưới): Khôn (☷) tượng trưng cho Đất, cho sự thuận hòa, bao dung, nuôi dưỡng vạn vật.
Hình ảnh nước ở trên mặt đất là biểu tượng của sự gắn bó, nương tựa lẫn nhau.
Lời kinh Chu Dịch của quẻ Tỷ được chép thế nào?
Quái từ (lời quẻ)
比:吉。原筮元永貞,无咎。不寧方來,後夫凶。
Âm Hán Việt: Tỷ: Cát. Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh, vô cữu. Bất ninh phương lai, hậu phu hung.
Dịch nghĩa: Tỷ: Tốt lành. Xem lần đầu (nguyên phệ) mà được đạo lớn lâu dài và chính bền, thì không lỗi. Kẻ bất an đang tới; kẻ đến sau thì hung.
Hào từ
初六:有孚,比之,无咎。有孚盈缶,終來有它,吉。
Sơ lục: Hữu phu, tỷ chi, vô cữu. Hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát.
Dịch: Có lòng tin, gắn bó với người, không lỗi. Lòng tin đầy như chiếc bình đựng đầy, cuối cùng có điều khác đến, tốt lành.
六二:比之自內,貞吉。
Lục nhị: Tỷ chi tự nội, trinh cát.
Dịch: Gắn bó từ bên trong, giữ chính thì tốt lành.
六三:比之匪人。
Lục tam: Tỷ chi phỉ nhân.
Dịch: Gắn bó với kẻ không phải người (không xứng đáng).
六四:外比之,貞吉。
Lục tứ: Ngoại tỷ chi, trinh cát.
Dịch: Gắn bó với người bên ngoài, giữ chính thì tốt lành.
九五:顯比。王用三敺,失前禽,邑人不誡,吉。
Cửu ngũ: Hiển tỷ. Vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát.
Dịch: Gắn bó rõ ràng. Vua dùng lối đuổi ba mặt, để mất con thú phía trước, người trong ấp không phải răn đe, tốt lành.
上六:比之无首,凶。
Thượng lục: Tỷ chi vô thủ, hung.
Dịch: Gắn bó mà không có đầu, hung.
Truyện (Thập Dực)
Thoán truyện: 比,吉也。比,輔也,下順從也。原筮,元永貞,无咎,以剛中也。不寧方來,上下應也。後夫凶,其道窮也。
Dịch: Tỷ là tốt lành. Tỷ là phò tá, kẻ dưới thuận theo. Nguyên phệ, nguyên vĩnh trinh, vô cữu, là vì cương trung. Bất ninh phương lai, là trên dưới ứng nhau. Hậu phu hung, là đạo của nó đã cùng.
Đại Tượng (Tượng truyện): 地上有水,比;先王以建萬國,親諸侯。
Dịch: Trên đất có nước, là Tỷ; tiên vương nhân đó lập muôn nước, thân với chư hầu.
Tiểu Tượng:
- 比之初六,有它吉也。
- 比之自內,不自失也。
- 比之匪人,不亦傷乎!
- 外比於賢,以從上也。
- 顯比之吉,位正中也。舍逆取順,失前禽也。邑人不誡,上使中也。
- 比之无首,无所終也。
Chú giải quẻ Tỷ theo Vương Bật được hiểu thế nào?
Vương Bật chú (trong Chu Dịch chính nghĩa):
- Về Thoán truyện "Bất ninh phương lai, thượng hạ ứng dã": Trên dưới không có hào dương nào để chia dân, hào Ngũ một mình ở ngôi tôn, không ai không quy về; trên dưới ứng với Ngũ. Đã thân lại yên, yên thì kẻ bất an gửi gắm vào. Cho nên kẻ bất an đang tới, là vì trên dưới ứng nhau. Kẻ không có cầu kẻ có, kẻ có không cầu kẻ cùng phe; kẻ nguy cầu yên, kẻ yên không cầu kẻ được bảo toàn. Lửa có sức nóng, kẻ lạnh bám vào. Cho nên nếu mình đã yên, thì kẻ bất an đang tới.
- Về "Hậu phu hung, kỳ đạo cùng dã": Sắp hợp hòa thân thiết mà riêng mình ở sau, khi thân đã thành thì bị trị tội, cho nên hung.
- Về hào Sơ lục: Ở đầu thời Tỷ, làm kẻ đứng đầu sự gắn bó. Lấy bất tín mà làm đầu sự gắn bó thì họa không gì lớn hơn, cho nên ắt phải có lòng tin đầy như bình đựng đầy, rồi mới khỏi lỗi của sự gắn bó. Ở đầu thời Tỷ, ứng không ở một chỗ, lòng không có tư lận, thì không ai không gắn bó với mình. Làm rõ tín, lập thành, tràn đầy trong đồ đựng mộc mạc, thì vật cuối cùng tới mà không suy kiệt. Thân với thiên hạ, làm rõ tín đầy bình, kẻ ứng há chỉ một đường mà tới? Cho nên ắt có điều tốt lành khác.
- Về hào Lục nhị: Ở thời Tỷ, giữ được trung và ngôi, mà ràng buộc ứng ở hào Ngũ, không thể tới chỗ khác, cho nên chỉ được cái tốt lành của sự gắn bó từ trong.
- Về hào Lục tam: Hào Tứ gắn bó với bên ngoài, hào Nhị vì hào Ngũ mà giữ chính, gần thì không đắc, xa thì không ứng, kẻ mình gắn bó đều không phải người thân của mình, cho nên nói "gắn bó với kẻ không phải người".
- Về hào Lục tứ: Gắn bó với hào Ngũ ở bên ngoài, lại được ngôi của mình, gắn bó không mất hiền, ở không mất ngôi, cho nên chính thì tốt lành.
- Về hào Cửu ngũ: Là chủ của sự gắn bó mà có ứng ở hào Nhị, là người "gắn bó rõ ràng". Gắn bó mà làm rõ ra thì kẻ mình thân chỉ hẹp. Không tư riêng với vật, chỉ kết với người hiền, thì kẻ đi và kẻ tới đều không mất. Lễ ba mặt đuổi, thú đón mình mà tới thì thả, quay lưng mình mà chạy thì bắn; yêu kẻ tới mà ghét kẻ đi, cho nên chỗ thi hành thường để mất con thú phía trước. Lấy "gắn bó rõ ràng" mà ở ngôi vua, dùng đạo ba mặt đuổi, cho nên nói "vua dùng ba mặt đuổi, để mất con thú phía trước". Dùng trung chính, chinh phạt có thường, đánh không thêm vào ấp, động ắt đánh kẻ phản, người trong ấp không lo, cho nên "không răn đe"; tuy không được cái tốt lành của bậc đại nhân, nhưng là cái tốt lành của "gắn bó rõ ràng". Đó có thể là việc của bậc trên sai khiến, không phải đạo của bậc trên.
- Về hào Thượng lục: Không đầu, là ở sau, ở cuối quẻ, là kẻ đến sau. Đạo thân đã thành, không có chỗ cùng, bị thời bỏ, nên hung là phải.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Tỷ nói về điều gì?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Tỷ đặt trọng tâm vào quan hệ gắn bó giữa người với người. Quái từ nêu điều kiện "nguyên vĩnh trinh" để không lỗi, và cảnh báo kẻ đến sau thì hung. Hình ảnh nước trên đất gợi sự thấm nhuần, nương tựa lẫn nhau.
Các hào từ cho thấy nhiều sắc thái: gắn bó từ đầu cần lòng tin (Sơ lục), gắn bó từ trong (Lục nhị), gắn bó nhầm người (Lục tam), gắn bó với người ngoài (Lục tứ), gắn bó rõ ràng của người ở ngôi cao (Cửu ngũ), gắn bó không đầu (Thượng lục). Đây là các tình huống để suy ngẫm, không phải lời khuyên áp đặt cho mọi hoàn cảnh.
Gặp quẻ Tỷ khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi hỏi việc làm mà gặp quẻ Tỷ, có thể xem lại các mối quan hệ đồng nghiệp, cấp trên, đối tác xem đang gắn bó với ai và vì điều gì. Quái từ nói "nguyên vĩnh trinh" gợi việc giữ chính bền lâu; hào Lục tam nhắc sự gắn bó nhầm người. Không nên xem quẻ như chỉ định kết quả công việc, mà như gợi ý để cân nhắc sự chân thành và sự lựa chọn người đồng hành.
Nếu đang ở vị trí lãnh đạo, hào Cửu ngũ với hình ảnh vua dùng lối đuổi ba mặt, không răn đe người trong ấp, có thể gợi phong cách rộng lượng, công bằng. Đây là gợi ý để suy ngẫm, không phải công thức bảo đảm thành công.
Gặp quẻ Tỷ khi hỏi tình cảm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Tỷ gợi sự gắn bó, thấu hiểu, chia sẻ. Quái từ nói đến "nguyên vĩnh trinh" như điều kiện bền lâu; hào Lục tam cảnh báo gắn bó nhầm người. Có thể dùng các ý này để nhìn lại mối quan hệ hiện tại: sự chân thành có đang là nền tảng hay không, có đang gắn bó với người không phù hợp hay không. Không nên xem quẻ như lời phán quyết về tương lai tình cảm.
Gặp quẻ Tỷ khi hỏi tiền bạc thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Tỷ không đưa ra chỉ dẫn cụ thể về đầu tư hay tài chính. Các hào từ nói về sự gắn bó giữa người với người. Nếu đang cân nhắc hợp tác làm ăn, có thể tham khảo ý "hữu phu" của hào Sơ lục (lòng tin) và "trinh" của quái từ (giữ chính). Mọi quyết định tiền bạc vẫn nên dựa trên thông tin thực tế và khả năng chịu rủi ro của bản thân.
Gặp quẻ Tỷ khi hỏi sức khỏe thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Tỷ không phải là công cụ chẩn đoán hay tiên lượng sức khỏe. Các ý về sự nương tựa, gắn bó có thể gợi việc tìm sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè, thầy thuốc khi cần. Vấn đề sức khỏe nên do người có chuyên môn thăm khám và tư vấn.
Quẻ Tỷ khác gì so với quẻ Sư và quẻ Đồng Nhân?
Quẻ Tỷ và quẻ Sư (Địa Thủy Sư)
Quẻ Tỷ (Thủy Địa Tỷ) và quẻ Sư (Địa Thủy Sư) có cấu trúc đảo ngược nhau. Quẻ Sư tượng trưng cho quân đội, chiến tranh, xung đột. Quẻ Tỷ tượng trưng cho sự hòa hợp, gắn kết. Hai quẻ cho thấy hai mặt của quan hệ giữa người với người.
Quẻ Tỷ và quẻ Đồng Nhân (Thiên Hỏa Đồng Nhân)
Quẻ Đồng Nhân cũng nói về sự hợp tác, nhưng nhấn mạnh sự hợp tác giữa những người cùng chí hướng. Quẻ Tỷ nói đến sự gắn kết của một tập thể dưới sự lãnh đạo của một người đứng đầu.
Bảng tra cứu nhanh: quẻ Thủy Địa Tỷ
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 8 |
| Tên chữ Hán | 比 |
| Ký hiệu | ䷇ |
| Tên tiếng Anh | Holding Together |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Khảm (Nước), hành Thủy, phương Bắc |
| Quẻ hạ (nội quái) | Khôn (Đất), hành Thổ, phương Tây Nam |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ âm, nhị âm, tam âm, tứ âm, ngũ dương, thượng âm |
| Tượng | Nước trên mặt đất, thấm vào nhau mà liền một dải. |
| Luận giải | Tượng cho sự gắn kết, thân cận và nương tựa lẫn nhau. Cổ nhân xem việc chọn ai để gắn bó là điều cần cân nhắc sớm. Quan hệ bền nằm ở sự chân thành hơn là ở tính toán. |
Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
