
TL;DR: Quẻ Sơn Địa Bác (剝) là quẻ thứ 23 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên là Cấn (Núi), quẻ dưới là Khôn (Đất), quái từ chép: 剝:不利。有攸往。 (Bác: bất lợi. Hữu du vãng.). Sáu hào gồm năm hào âm ở dưới và một hào dương ở trên cùng, các hào từ đi từ bóc chân giường tới bóc da người rồi tới quả lớn không ăn. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nên nhìn phần nền đang bị bào mòn thay vì chỉ nhìn phần ngọn, và không dựa vào một quẻ để quyết định chuyện lớn.
Quẻ Sơn Địa Bác là quẻ số mấy, gồm quẻ nào trên quẻ nào?
Quẻ Sơn Địa Bác (剝) là quẻ thứ 23 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm quẻ Cấn (Núi) ở trên và quẻ Khôn (Đất) ở dưới. Sáu hào của quẻ có năm hào âm ở dưới và một hào dương ở trên cùng. Tên quẻ 剝 đọc là Bác, nghĩa là bóc, lột, làm rụng.
Quái từ chép: 剝:不利。有攸往。 Đọc là: Bác: bất lợi. Hữu du vãng. Nghĩa sát: Bác: không lợi. Có chỗ để đi tới.
Thoán truyện viết: 剝,剝也,柔變剛也。不利有攸往,小人長也。順而止之,觀象也。君子尚消息盈虛,天行也。 Nghĩa sát: Bác là bóc, mềm đổi cứng. Không lợi có chỗ đi tới, là tiểu nhân lớn lên. Thuận mà dừng lại, là xem tượng. Người quân tử chuộng lẽ tiêu tức đầy vơi, ấy là đạo trời.
Đại Tượng viết: 山附地上,剝;上以厚下,安宅。 Nghĩa sát: Núi ghé trên đất, là Bác; bậc trên lấy đó mà làm dày phần dưới, yên chỗ ở.
Truyền thống quy Thoán truyện và Tượng truyện cho Khổng Tử, xếp vào Thập Dực; nghiên cứu hiện đại thường xếp các truyện này vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN và không coi việc quy tác giả ấy là đã chứng minh.
Sáu hào của quẻ Sơn Địa Bác chép gì?
Dưới đây là hào từ theo lời kinh, kèm Tiểu Tượng của mỗi hào.
- Hào Sơ lục: 初六:剝牀以足,蔑貞凶。 Đọc: Sơ lục: Bác sàng dĩ túc, miệt trinh hung. Nghĩa sát: Bóc giường bằng chân, diệt chính thì hung. Tiểu Tượng: 剝牀以足,以滅下也 (bóc giường bằng chân, là để diệt phần dưới).
- Hào Lục nhị: 六二:剝牀以辨,蔑貞凶。 Đọc: Lục nhị: Bác sàng dĩ biện, miệt trinh hung. Nghĩa sát: Bóc giường tới biện, diệt chính thì hung. Tiểu Tượng: 剝牀以辨,未有與也 (bóc giường tới biện, là vì chưa có cùng phe).
- Hào Lục tam: 六三:剝之,无咎。 Đọc: Lục tam: Bác chi, vô cữu. Nghĩa sát: Bóc nó, không lỗi. Tiểu Tượng: 剝之无咎,失上下也 (bóc nó không lỗi, là lìa trên dưới).
- Hào Lục tứ: 六四:剝牀以膚,凶。 Đọc: Lục tứ: Bác sàng dĩ phu, hung. Nghĩa sát: Bóc giường tới da, hung. Tiểu Tượng: 剝牀以膚,切近災也 (bóc giường tới da, là tai họa sát gần).
- Hào Lục ngũ: 六五:貫魚,以宮人寵,无不利。 Đọc: Lục ngũ: Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi. Nghĩa sát: Xâu cá, lấy cung nhân mà sủng ái, không gì bất lợi. Tiểu Tượng: 以宮人寵,終无尤也 (lấy cung nhân mà sủng ái, rốt cùng không lỗi).
- Hào Thượng cửu: 上九:碩果不食,君子德車,小人剝廬。 Đọc: Thượng cửu: Thạc quả bất thực, quân tử đức xa, tiểu nhân bác lư. Nghĩa sát: Quả lớn không ăn, quân tử được xe, tiểu nhân bóc nhà. Tiểu Tượng: 君子得輿,民所載也。小人剝廬,終不可用也 (quân tử được xe, là dân chở vậy; tiểu nhân bóc nhà, rốt cùng không dùng được).
Vương Bật và Chu Hy chú giải quẻ Bác thế nào?
Vương Bật chú trên hào Sơ lục: "Giường là chỗ người ta nhờ đó mà yên. 'Bóc giường bằng chân' còn nói bóc chân giường vậy. 'Miệt' còn nghĩa là làm hư hao. Bóc chân giường là đạo diệt phần dưới. Đạo dưới mới diệt, cứng rụng mềm lớn, thì chính bị hư hao mà hung tới vậy."
Vương Bật chú trên hào Lục nhị: "'Miệt' còn là lời rất mực. Biện là phần trên chân. Đạo bóc thấm lớn, cho nên bóc biện nó. Hơi gần tới giường, càng muốn diệt chỗ vật ở, làm lớn mềm mà hư hao chính. Lấy đó làm đức, thì vật bỏ mình vậy."
Vương Bật chú trên hào Lục tam: "Cùng hào trên ứng nhau, bọn âm bóc dương, riêng ta hòa hợp, tuy ở trong thời bóc mà có thể không lỗi."
Vương Bật chú trên hào Lục tứ: "Hào đầu và hào hai bóc giường, là chỗ dân nhờ đó mà yên, chưa bóc tới thân mình. Tới hào bốn đạo bóc thấm lớn, giường đã bóc hết, cho tới thân người, tiểu nhân bèn thịnh, vật sắp mất thân, há chỉ hư hao chính, không chỗ nào không hung."
Vương Bật chú trên hào Lục ngũ: "Ở thời bóc mà ngôi tôn, là chủ của bóc vậy. Cái hại của bóc là tiểu nhân được sủng mà tiêu diệt quân tử. Nếu có thể ban sủng cho tiểu nhân, chỉ giới hạn ở cung nhân mà thôi, không hại tới chính, thì kẻ được sủng tuy đông, rốt cùng không lỗi. 'Xâu cá' nói bọn âm ấy, đầu hàng nhau liền thứ tự, giống như xâu cá vậy."
Vương Bật chú trên hào Thượng cửu: "Ở cuối quẻ, riêng toàn vẹn không rụng, cho nên quả tới lớn mà không bị ăn. Quân tử ở đó thì che chở cho dân; tiểu nhân dùng đó thì bóc chỗ che chở bên dưới vậy."
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú trên quái từ: "Bác là rụng vậy. Năm âm ở dưới mà đương sinh, một dương ở trên mà sắp hết, âm thịnh lớn mà dương tiêu rụng, là quẻ của tháng chín. Âm thịnh dương suy, tiểu nhân mạnh mà quân tử bệnh, lại trong là Khôn ngoài là Cấn, có tượng thuận thời mà dừng lại, cho nên kẻ bói được quẻ này không nên có chỗ đi tới vậy."
Chu Hy chú trên hào Sơ lục: "Bóc từ dưới dậy, diệt chính thì hung, cho nên lời chiêm như thế. Miệt là diệt vậy."
Chu Hy chú trên hào Lục nhị: "Biện đọc là biện. Biện là cán giường vậy. Tiến lên mà lên rồi."
Chu Hy chú trên hào Lục tam: "Bọn âm đương bóc dương mà riêng mình ứng với nó, lìa bè đảng mà theo chính, ấy là đạo không lỗi. Kẻ chiêm như thế thì được không lỗi."
Chu Hy chú trên hào Lục tứ: "Họa âm cắt vào thân, cho nên không còn nói 'miệt trinh' mà nói thẳng là hung vậy."
Chu Hy chú trên hào Lục ngũ: "Cá là vật âm, cung nhân là vẻ đẹp bậc âm mà chịu chế bởi dương. Hào năm là bậc trưởng của bọn âm, đương dẫn loại mình chịu chế bởi dương, cho nên có tượng ấy, và kẻ chiêm như thế thì không gì bất lợi vậy."
Chu Hy chú trên hào Thượng cửu: "Một dương ở trên, bóc chưa hết mà có thể sinh lại. Quân tử ở trên thì được bọn âm chở; tiểu nhân ở đó thì bóc hết ở trên, tự mất chỗ che, mà không còn tượng quả lớn được xe nữa. Lấy tượng đã rõ mà quân tử tiểu nhân lời chiêm khác nhau, tình của thánh nhân càng thấy được vậy."
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Bác nói về điều gì?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Bác mô tả một giai đoạn suy giảm diễn ra từ gốc: năm hào âm ở dưới đang lớn dần, một hào dương trên cùng sắp hết. Hình tượng núi ghé trên đất, phần chân bị bào mòn dần, là cách nói về nền tảng bị xói mòn trước khi cái ở trên mất vững. Lời kinh không hứa hẹn gì về kết cục; Thoán truyện chỉ nói tới lẽ tiêu tức đầy vơi như đạo trời, và Đại Tượng rút ra việc làm dày phần dưới để yên chỗ ở.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, các hào từ từ Sơ tới Tứ vẽ một chuỗi bóc dần từ chân giường tới mặt giường rồi tới da người, mỗi bước một sát hơn. Hào Lục tam là chỗ khác biệt: một hào âm lìa bè đảng mà ứng với hào dương trên cùng. Hào Lục ngũ đặt chuyện sủng ái cung nhân trong khung bối cảnh xã hội thời xưa, khi quan hệ vua tôi và nam nữ có chuẩn mực riêng; đọc hôm nay nên xem đó là bối cảnh lịch sử, không biến thành lời khuyên cho đời sống hiện tại. Hào Thượng cửu nói tới quả lớn không bị ăn, tức phần tinh túy còn sót lại, và hai lối ứng xử khác nhau của quân tử và tiểu nhân trước cùng một hoàn cảnh.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Bác không phải là lời hứa về sự sụp đổ, cũng không phải là lời bảo đảm về sự hồi sinh. Nó là một cách đặt tên cho thời kỳ mòn dần, để người đọc nhận ra mình đang ở đoạn nào của chu kỳ. Quẻ Phục (quẻ 24) đứng sau trong trật tự 64 quẻ, nhưng việc quẻ này nối tiếp quẻ kia trong sách không đồng nghĩa với việc vận mệnh của một người sẽ tự động đảo chiều.
Gặp quẻ Sơn Địa Bác khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: trước hết hãy nhìn xem phần nền đang bị bào ở đâu, thay vì chỉ nhìn phần ngọn đang còn đứng. Nếu công việc đang có dấu hiệu xói mòn từ những chi tiết nhỏ, việc ghi lại các dấu hiệu ấy và xử lý từ gốc thường hữu ích hơn là cố giữ nguyên hình thức bên ngoài. Các quyết định lớn như đổi việc, đầu tư hay mở rộng nên được cân nhắc theo tình hình thực tế của bạn, không nên chỉ dựa vào một quẻ.
Gặp quẻ Sơn Địa Bác khi hỏi chuyện tình cảm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu mối quan hệ đang có dấu hiệu rạn nứt âm thầm, hãy tìm gốc của sự rạn nứt thay vì chỉ xử lý phần biểu hiện bên ngoài. Quẻ không quyết định chuyện hợp tan của bạn; nó chỉ là một cách nhìn vào cấu trúc của tình huống. Trong trường hợp có tổn thương kéo dài, việc tìm người tư vấn hoặc người có chuyên môn thường hữu ích hơn là tự suy đoán theo quẻ.
Gặp quẻ Sơn Địa Bác khi hỏi chuyện tiền bạc thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: quái từ chép "bất lợi, hữu du vãng", nên khi đọc quẻ này trong bối cảnh tiền bạc, có thể xem đó như một lời nhắc cân nhắc kỹ trước khi mở rộng cam kết mới. Nhật Nguyệt không đưa ra lời khuyên đầu tư cụ thể, và không có quẻ nào thay thế được việc xem xét con số, dòng tiền và khả năng chịu rủi ro của chính bạn.
Gặp quẻ Sơn Địa Bác khi hỏi về sức khỏe thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Lục tứ có chữ "hung" và Tiểu Tượng nói "tai họa sát gần", nhưng đó là lời của kinh văn trong bối cảnh của nó, không phải là chẩn đoán y khoa. Nếu có lo lắng về sức khỏe, việc cần làm là đi khám và hỏi người có chuyên môn, không dựa vào quẻ để quyết định.
Gặp quẻ Sơn Địa Bác khi hỏi về vai trò lãnh đạo thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: Đại Tượng viết "bậc trên lấy đó mà làm dày phần dưới, yên chỗ ở", gợi một hướng chú ý tới nền tảng và người ở dưới trước khi lo tới vị trí của mình. Hào Lục ngũ nói về việc sủng ái có giới hạn, hào Thượng cửu nói về hai lối dùng quyền khác nhau; đọc trong bối cảnh hôm nay, có thể xem đó như gợi ý về việc phân bổ nguồn lực và sự che chở. Đây là gợi ý để suy ngẫm, không phải là công thức chắc chắn cho kết quả.
Bảng tra cứu nhanh: quẻ Sơn Địa Bác
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 23 |
| Tên chữ Hán | 剝 |
| Ký hiệu | ䷖ |
| Tên tiếng Anh | Splitting Apart |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Cấn (Núi), hành Thổ, phương Đông Bắc |
| Quẻ hạ (nội quái) | Khôn (Đất), hành Thổ, phương Tây Nam |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ âm, nhị âm, tam âm, tứ âm, ngũ âm, thượng dương |
| Tượng | Núi bám trên đất, phần dưới đang lở dần. |
| Quái từ | 剝:不利。有攸往。 |
| Luận giải | Chỉ giai đoạn hao mòn, nền tảng bị bào đi từng chút. Quái từ chép không lợi và có chỗ đi tới; Đại Tượng gợi việc làm dày phần dưới để yên chỗ ở. Điều đi xuống cũng nằm trong một chu kỳ có lúc quay lại. |
Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
Bài tổng quan chủ đề: Kinh Dịch là gì và cách tra 64 quẻ
