
TL;DR: Quẻ Thủy Lôi Truân (屯) là quẻ số 3 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm quẻ trên là Khảm (Nước) và quẻ dưới là Chấn (Sấm). Quái từ chép: 屯:元亨,利貞。勿用有攸往,利建侯, nghĩa là cả hanh thông, lợi về chính bền, chớ vội thừa đi, lợi về lập chư hầu. Gợi ý của Nhật Nguyệt: gặp Truân nên xem đây là giai đoạn nền móng chưa vững, chú trọng củng cố nội bộ và tìm người đồng hành đáng tin hơn là mở rộng vội vàng.
Quẻ Thủy Lôi Truân là quẻ thứ mấy, gồm quẻ trên quẻ dưới nào?
Quẻ Thủy Lôi Truân (屯) là quẻ số 3 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, sau Thuần Càn và Thuần Khôn. Quẻ gồm quẻ trên là Khảm (坎, Nước) và quẻ dưới là Chấn (震, Sấm). Tên Truân (屯) gợi sự khó khăn, gian truân buổi đầu, khi vạn vật vừa sinh thành còn chưa ổn định.

Nguồn gốc quẻ Thủy Lôi Truân được truyền thống quy cho ai?
Theo truyền thống, Kinh Dịch dựng trên bát quái do Phục Hy vẽ ra từ việc quan sát hiện tượng tự nhiên; truyền thống kể tiếp rằng Văn Vương nhà Chu diễn giải bát quái thành 64 quẻ kép và viết lời thoán, Chu Công viết lời hào, rồi Khổng Tử và các học trò soạn Thoán truyện, Tượng truyện và Hệ từ truyện để giải thích. Nghiên cứu hiện đại không coi các quy kết ấy là đã chứng minh. Edward Shaughnessy xếp phần kinh của Chu Dịch vào cuối thế kỷ 9 TCN, đời Tây Chu; các bản chép cổ như thẻ tre Chu Dịch lưu ở Bảo tàng Thượng Hải (khoảng năm 300 TCN) và bản lụa Mã Vương Đôi (mộ niêm năm 168 TCN) cho thấy văn bản đã lưu hành trước đời Hán; còn Thập Dực là các lớp chú giải soạn muộn hơn, khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN (Redmond và Hon, Teaching the I Ching, 2014).
Lời gốc của quẻ Thủy Lôi Truân chép những gì?
Dưới đây là lời kinh chép theo văn bản Chu Dịch lưu trên Wikisource, kèm âm Hán Việt đọc theo đúng chữ Hán và nghĩa sát.
Quái từ: 屯:元亨,利貞。勿用有攸往,利建侯。
Dịch nghĩa: Truân: cả hanh thông, lợi về sự chính bền. Chớ dùng có thừa đi, lợi về việc lập chư hầu.
Hào Sơ cửu: 初九:磐桓,利居貞,利建侯。
Dịch nghĩa: Đầu chín: quanh co đá tảng, lợi về ở chính bền, lợi về lập chư hầu.
Hào Lục nhị: 六二:屯如邅如,乘馬班如,匪寇婚媾,女子貞不字,十年乃字。
Dịch nghĩa: Sáu hai: khó khăn dùng dằng, cưỡi ngựa chùng chình, chẳng phải giặc mà là hỏi cưới; người con gái giữ chính không kết hôn, mười năm mới kết hôn.
Hào Lục tam: 六三:即鹿无虞,惟入于林中,君子幾不如舍,往吝。
Dịch nghĩa: Sáu ba: đuổi hươu không có người coi rừng, chỉ vào trong rừng; người quân tử thấy cơ thì chẳng bằng bỏ đi, thừa đi thì tiếc.
Hào Lục tứ: 六四:乘馬班如,求婚媾,往,吉无不利。
Dịch nghĩa: Sáu tư: cưỡi ngựa chùng chình, cầu hỏi cưới; thừa đi thì tốt, không gì chẳng lợi.
Hào Cửu ngũ: 九五:屯其膏;小貞吉,大貞凶。
Dịch nghĩa: Chín năm: đọng ơn mỡ; chính nhỏ thì tốt, chính lớn thì hung.
Hào Thượng lục: 上六:乘馬班如,泣血漣如。
Dịch nghĩa: Trên sáu: cưỡi ngựa chùng chình, khóc máu ròng ròng.
Thoán truyện (thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN) viết: 屯,剛柔始交而難生,動乎險中,大亨貞。雷雨之動滿盈,天造草昧,宜建侯而不寧。
Dịch nghĩa: Truân, cương nhu bắt đầu giao nhau mà khó sinh ra, động trong chỗ hiểm, cả hanh thông chính bền. Sấm mưa động đầy tràn, trời tạo buổi mờ tối, nên lập chư hầu mà chẳng yên.
Tượng truyện (Đại Tượng, cũng thuộc Thập Dực) viết: 雲雷,屯;君子以經綸。
Dịch nghĩa: Mây sấm, là Truân; người quân tử nhân đó mà kinh luân (sắp đặt, lo liệu việc lớn).
Các Tiểu Tượng đi kèm từng hào: 雖磐桓,志行正也。以貴下賤,大得民也。 / 六二之難,乘剛也。十年乃字,反常也。 / 即鹿无虞,以從禽也。君子舍之,往吝窮也。 / 求而往,明也。 / 屯其膏,施未光也。 / 泣血漣如,何可長也。
Chú giải lời gốc quẻ Thủy Lôi Truân theo Vương Bật
Vương Bật chú (trong Chu Dịch chính nghĩa) giải thích quái từ: 剛柔始交,是以「屯」也。不交則否,故屯乃大亨也。大亨則無險,故「利貞」。 Dịch: cương nhu bắt đầu giao nhau, cho nên gọi là Truân. Không giao thì bế tắc, cho nên Truân mới cả hanh thông. Cả hanh thông thì không còn hiểm, cho nên lợi về chính bền.
Về câu 勿用有攸往,利建侯, Vương Bật chú: 往,益「屯」也。得王則定。 Dịch: thừa đi là càng thêm Truân; được vua thì yên định.
Về câu 雷雨之動滿盈, Vương Bật chú: 雷雨之動,乃得滿盈,皆剛柔始交之所為。 Dịch: sấm mưa động mới được đầy tràn, đều là do cương nhu bắt đầu giao nhau mà ra.
Về câu 天造草昧,宜建侯而不寧, Vương Bật chú: 「屯」體不寧,故利「建侯」也。「屯」者,天地造始之時也,造物之始,始於冥昧,故曰「草昧」也。處造始之時,所宜之善,莫善「建侯」也。 Dịch: thể của Truân chẳng yên, cho nên lợi về lập chư hầu. Truân là buổi trời đất bắt đầu tạo dựng; buổi đầu tạo vật khởi từ mờ tối, cho nên gọi là cỏ mờ. Ở buổi bắt đầu tạo dựng, việc nên làm tốt nhất không gì hơn lập chư hầu.
Về hào Sơ cửu, Vương Bật chú: 處屯之初,動則難生,不可以進,故「磐桓」也。處此時也,其利安在?不唯居貞建侯乎?夫息亂以靜,守靜以侯,安民在正,弘正在謙。屯難之世,陰求於陽,弱求於強,民思其主之時也。初處其首而又下焉。爻備斯義,宜其得民也。 Dịch: ở đầu thời Truân, động thì khó sinh, không thể tiến, cho nên quanh co đá tảng. Ở thời ấy, cái lợi ở đâu? Chẳng phải chỉ ở giữ chính bền và lập chư hầu sao? Dẹp loạn bằng tĩnh, giữ tĩnh bằng hầu, yên dân ở chính, mở rộng chính ở khiêm. Đời Truân khó, âm cầu dương, yếu cầu mạnh, là lúc dân nhớ chủ. Hào đầu ở ngôi đầu mà lại ở dưới. Hào đủ nghĩa ấy, nên được dân.
Về hào Lục nhị, Vương Bật chú: 志在乎「五」,不從於初。屯難之時,正道未行,與初相近而不相得,困於侵害,故屯邅。「屯」時方屯難,正道未通,涉遠而行,難可以進,故曰:「乘馬班如」也。寇謂初也。無「初」之難,則與「五」婚矣,故曰「匪寇婚媾」也。「志在於五」,不從於初,故曰「女子貞不字」也。屯難之世,勢不過十年者也。十年則反常,反常則本志斯獲矣。故曰「十年乃字」。 Dịch: chí ở hào năm, không theo hào đầu. Thời Truân khó, chính đạo chưa hành, gần hào đầu mà chẳng được, khốn vì xâm hại, cho nên dùng dằng. Thời Truân đang khó, chính đạo chưa thông, lội xa mà đi, khó tiến, cho nên nói cưỡi ngựa chùng chình. Giặc là chỉ hào đầu. Không có cái khó của hào đầu thì đã kết hôn với hào năm, cho nên nói chẳng phải giặc mà là hỏi cưới. Chí ở hào năm, không theo hào đầu, cho nên nói người con gái giữ chính không kết hôn. Đời Truân khó, thế không quá mười năm. Mười năm thì trở lại bình thường, trở lại bình thường thì chí vốn được toại. Cho nên nói mười năm mới kết hôn.
Về hào Lục tam, Vương Bật chú: 三既近五而無寇難,四雖比五,其志在初,不妨已路,可以進而無屯邅也。見路之易,不揆其志,五應在二,往必不納,何異無虞以從禽乎?雖見其禽而無其虞,徒入于林中,其可獲乎?幾,辭也。夫君子之動,豈取恨辱哉!故不如舍,「往吝」,窮也。 Dịch: hào ba đã gần hào năm mà không có khó của giặc, hào tư tuy gần hào năm nhưng chí ở hào đầu, không ngăn đường mình, có thể tiến mà không dùng dằng. Thấy đường dễ, không xét chí người, hào năm ứng ở hào hai, thừa đi ắt không được nhận, khác gì không có người coi rừng mà đuổi thú? Tuy thấy thú mà không có người coi, chỉ vào trong rừng, há bắt được sao? Cơ là lời ngừng. Người quân tử hành động, há lấy hận nhục sao! Cho nên chẳng bằng bỏ đi, thừa đi thì tiếc, là cùng.
Về hào Lục tứ, Vương Bật chú: 二雖比初,執貞不從,不害巳志者也。求與合好,往必見納矣。故曰「往吉,無不利」。 Dịch: hào hai tuy gần hào đầu, giữ chính không theo, là kẻ không hại chí mình. Cầu hợp tốt, thừa đi ắt được nhận. Cho nên nói thừa đi thì tốt, không gì chẳng lợi.
Về hào Cửu ngũ, Vương Bật chú: 處屯難之時,居尊位之上,不能恢弘博施,無物不與,拯濟微滯。亨於群小,而系應在二,屯難其膏,非能光其施者也。固志同好,不容他間,小貞之吉,大貞之凶。 Dịch: ở thời Truân khó, ngồi trên ngôi tôn, không thể mở rộng ban bố, không vật nào không cho, cứu vớt kẻ nhỏ bế tắc. Hanh thông với bọn nhỏ, mà ràng buộc ứng ở hào hai, đọng ơn mỡ, chẳng phải kẻ làm sáng tỏ sự ban bố. Giữ chí cùng sở thích, không dung kẻ khác xen vào, chính nhỏ thì tốt, chính lớn thì hung.
Về hào Thượng lục, Vương Bật chú: 處險難之極,下無應援,進無所適,雖比於五,五屯其膏,不與相得,居不獲安,行無所適,窮困闉厄,無所委仰,故「泣血漣如」。 Dịch: ở cực hiểm khó, dưới không có ứng viện, tiến không có nơi, tuy gần hào năm nhưng hào năm đọng ơn mỡ, không cùng được nhau, ở chẳng được yên, đi không có nơi, cùng khốn bế tắc, không có nơi nương cậy, cho nên khóc máu ròng ròng.
Bảng sự thật cho biết Chu Dịch bản nghĩa chưa tách được lời chú của Chu Hy cho quẻ này, nên ở đây không dẫn Chu Hy.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Thủy Lôi Truân nói về điều gì?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, Truân là quẻ của buổi đầu: trời đất đã sinh thành nhưng vạn vật còn non yếu, còn hỗn độn, còn phải vượt qua lớp đất cứng mới vươn lên được. Quẻ không hứa hẹn thành công dễ dàng, mà mô tả một trạng thái giao thời đầy năng lượng nhưng chưa định hình. Đọc Truân, điều đáng chú ý là hình ảnh mây sấm chưa tan, mưa chưa xuống, mọi thứ còn đang chờ đợi một trật tự mới. Trong các tầng nghĩa ấy, Truân vừa là khó khăn vừa là dấu hiệu của sự sinh thành.
Gặp quẻ Thủy Lôi Truân khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi hỏi việc làm mà gặp Truân, nên xem đây là giai đoạn nền móng chưa vững, nhiều việc còn rối, đối tác và nguồn lực chưa rõ. Quái từ chép 勿用有攸往, 利建侯, tức chớ vội thừa đi xa, lợi về việc lập chư hầu; có thể hiểu là nên củng cố nội bộ, tìm người đồng hành đáng tin hơn là mở rộng vội vàng. Đây là gợi ý để suy xét, không phải lời khẳng định về kết quả công việc hay tài chính của một người cụ thể.
Gặp quẻ Thủy Lôi Truân khi hỏi tình cảm thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Lục nhị có hình ảnh đôi bên dùng dằng, có kẻ đến không phải để cướp mà để hỏi cưới, người con gái giữ chính không kết hôn, mười năm mới kết hôn. Đây là bối cảnh xã hội thời xưa, với chuẩn mực hôn nhân và vai trò nam nữ của thời ấy, không nên biến thành lời khuyên áp đặt cho hôm nay. Về mặt gợi ý, Truân có thể được đọc như lời nhắc rằng tình cảm chớm nở thường cần thời gian và sự rõ ràng, vội vàng dễ sinh hiểu lầm; nhưng mọi kết luận về một mối quan hệ cụ thể vẫn thuộc về người trong cuộc.
Gặp quẻ Thủy Lôi Truân khi hỏi sức khỏe thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: Truân mô tả trạng thái khởi đầu còn non yếu, chưa ổn định, nên có thể gợi ý rằng đây là lúc cần theo dõi sát và tìm người có chuyên môn khi có dấu hiệu bất thường. Quẻ không nói gì thay cho chẩn đoán y khoa; các quyết định về sức khỏe nên dựa trên thăm khám và tư vấn của thầy thuốc.
Gặp quẻ Thủy Lôi Truân khi hỏi việc lãnh đạo thì nên hiểu thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Cửu ngũ nói về vị trí lãnh đạo trong thời khó, với hình ảnh đọng ơn mỡ, chính nhỏ thì tốt, chính lớn thì hung. Vương Bật chú giải rằng ở thời Truân khó, ngồi trên ngôi tôn mà không mở rộng ban bố, ràng buộc ứng ở hào hai, thì khó làm sáng tỏ sự ban bố. Từ đó có thể gợi ý rằng người lãnh đạo trong giai đoạn rối nên chú trọng chia sẻ nguồn lực và lắng nghe người dưới, thay vì ôm hết việc lớn. Đây là gợi ý suy xét, không phải lời khẳng định về vận mệnh hay thành bại của một cá nhân.
Sáu hào của quẻ Thủy Lôi Truân nói gì?
Mỗi hào trong quẻ Dịch mô tả một giai đoạn hoặc một khía cạnh của tình huống. Quẻ Thủy Lôi Truân có sáu hào, đọc từ hào dưới cùng lên hào trên cùng.
Hào Sơ cửu: quanh co đá tảng
Hào Sơ cửu là hào dương ở vị trí thấp nhất. Hào từ chép 磐桓,利居貞,利建侯, nghĩa là quanh co đá tảng, lợi về ở chính bền, lợi về lập chư hầu. Tiểu Tượng viết 雖磐桓,志行正也。以貴下賤,大得民也, nghĩa là tuy quanh co đá tảng, chí hành chính vậy; lấy sang ở dưới thấp, rất được dân. Vương Bật chú giải rằng ở đầu thời Truân, động thì khó sinh, không thể tiến, nên quanh co đá tảng; đời Truân khó là lúc âm cầu dương, yếu cầu mạnh, dân nhớ chủ.
Hào Lục nhị: dùng dằng giữ chính
Hào Lục nhị là hào âm ở vị trí trung tâm quẻ nội. Hào từ chép 屯如邅如,乘馬班如,匪寇婚媾,女子貞不字,十年乃字. Tiểu Tượng viết 六二之難,乘剛也。十年乃字,反常也, nghĩa là cái khó của sáu hai là do cưỡi lên cương; mười năm mới kết hôn là trở lại bình thường. Vương Bật chú giải rằng hào này chí ở hào năm, không theo hào đầu; gần hào đầu mà chẳng được, khốn vì xâm hại, nên dùng dằng; không có cái khó của hào đầu thì đã kết hôn với hào năm. Hình ảnh hôn nhân ở đây thuộc bối cảnh xã hội thời xưa, không nên đọc thành lời khuyên áp đặt cho hôm nay.
Hào Lục tam: đuổi hươu không có người coi rừng
Hào Lục tam là hào âm ở cuối quẻ nội. Hào từ chép 即鹿无虞,惟入于林中,君子幾不如舍,往吝. Tiểu Tượng viết 即鹿无虞,以從禽也。君子舍之,往吝窮也, nghĩa là đuổi hươu không có người coi rừng là để theo thú; quân tử bỏ đi, thừa đi thì tiếc và cùng. Vương Bật chú giải rằng thấy đường dễ mà không xét chí người, hào năm ứng ở hào hai, thừa đi ắt không được nhận, khác gì không có người coi rừng mà đuổi thú.
Hào Lục tứ: cầu hỏi cưới
Hào Lục tứ là hào âm ở đầu quẻ ngoại. Hào từ chép 乘馬班如,求婚媾,往,吉无不利. Tiểu Tượng viết 求而往,明也, nghĩa là cầu mà đi, là sáng. Vương Bật chú giải rằng hào hai tuy gần hào đầu nhưng giữ chính không theo, không hại chí mình; cầu hợp tốt, thừa đi ắt được nhận.
Hào Cửu ngũ: đọng ơn mỡ
Hào Cửu ngũ là hào dương ở vị trí lãnh đạo. Hào từ chép 屯其膏;小貞吉,大貞凶. Tiểu Tượng viết 屯其膏,施未光也, nghĩa là đọng ơn mỡ, ban bố chưa sáng tỏ. Vương Bật chú giải rằng ở thời Truân khó, ngồi trên ngôi tôn mà không mở rộng ban bố, ràng buộc ứng ở hào hai, nên chính nhỏ thì tốt, chính lớn thì hung.
Hào Thượng lục: khóc máu ròng ròng
Hào Thượng lục là hào âm ở trên cùng. Hào từ chép 乘馬班如,泣血漣如. Tiểu Tượng viết 泣血漣如,何可長也, nghĩa là khóc máu ròng ròng, sao có thể lâu. Vương Bật chú giải rằng ở cực hiểm khó, dưới không có ứng viện, tiến không có nơi, tuy gần hào năm nhưng hào năm đọng ơn mỡ, không cùng được nhau, nên khóc máu ròng ròng.
Bảng tra cứu nhanh: quẻ Thủy Lôi Truân
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 3 |
| Tên chữ Hán | 屯 |
| Ký hiệu | ䷂ |
| Tên tiếng Anh | Difficulty at the Beginning |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Khảm (Nước), hành Thủy, phương Bắc |
| Quẻ hạ (nội quái) | Chấn (Sấm), hành Mộc, phương Đông |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ dương, nhị âm, tam âm, tứ âm, ngũ dương, thượng âm |
| Tượng | Mây trên sấm dưới, vạn vật mới sinh còn vướng mắc. |
| Luận giải | Chỉ giai đoạn khởi đầu nhiều rối rắm, mọi thứ chưa định hình. Truyền thống khuyên chưa vội tiến xa, nên tìm người đồng hành và sắp xếp lại nền tảng. Khó khăn ở đây được hiểu là dấu hiệu của sự sinh thành. |
Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
