
TL;DR: Tang lễ miền Bắc truyền thống thường theo khung của Thọ mai gia lễ, gồm các lớp chính: khâm liệm, nhập quan, phát tang, cúng cơm hằng ngày, tế ngu sau khi táng và các tuần thất. Tên gọi và thứ tự có thể khác nhau giữa các làng, các dòng họ; bài này theo cách trình bày phổ biến trong Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính và Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc.
Tang lễ miền Bắc gồm những nghi lễ nào, và căn cứ vào đâu để gọi tên?
Tang lễ miền Bắc truyền thống không phải một danh sách cố định, mà là một chuỗi nghi lễ được gọi tên theo sách gia lễ, rồi mỗi làng, mỗi dòng họ gia giảm thêm bớt. Khung lý thuyết thường được nhắc tới là Văn công gia lễ của Chu Hy đời Tống, sau đó được giản lược cho phù hợp với người Việt qua Thọ mai gia lễ của Hồ Sĩ Dương đời Lê[1]. Đến đầu thế kỷ 20, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (in thành sách năm 1915) ghi lại trình tự tang lễ khá chi tiết, và Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932) soạn lại cho gọn để dùng trong gia đình[2][3].
Ba văn bản này không phải một bản chuẩn duy nhất, mà là ba cách ghi chép ở ba thời điểm khác nhau. Khi đọc các bản kể hiện nay, cần biết bài đang theo cách gọi của nguồn nào, vì cùng một nghi lễ có thể có hai tên khác nhau.
Trước khi khâm liệm: những việc phải làm ngay khi người thân vừa mất
Khi người già yếu gần mất, con cháu đưa đến chỗ chính tẩm để nghe lời trối trăng, đặt tên hiệu cho người sắp mất, dùng nước trầm hương lau mình, thay quần áo tươm tất[2]. Sau khi tắt hơi, người ta đặt ngang hàm một chiếc đũa, bỏ vào miệng một vốc gạo và ba đồng tiền; nhà giàu thay bằng ba miếng vàng sống và chín hạt châu trai. Tục ấy gọi là ngậm hàm[2].
Tiếp theo là động tác hạ tịch: trải chiếu xuống đất, đưa người đã khuất xuống một lát, rồi lại đưa lên giường. Ý nghĩa được Phan Kế Bính ghi lại là người do đất sinh ra thì khi chết lại về với đất[2]. Sau đó, người con cầm chiếc áo người mất vừa thay, trèo lên mái nhà hú vía ba tiếng, như còn mong người sống lại, rồi lấy áo ấy phủ lên thân thể người đã khuất[2].
Bản kể của Thanh Niên năm 2010 cũng liệt kê một loạt thủ tục có tên Hán Việt tương tự: Thiên chính tẩm (dời ra giữa nhà), Di ngôn (lời trăng trối), Gia tân y (thay quần áo), Hạ tịch (đặt xuống chiếu trải dưới đất), Trị quan (chuẩn bị quan tài)[1]. Đây là cách gọi theo sách gia lễ, không phải cách gọi dân gian ở mọi làng.
Khâm liệm và nhập quan diễn ra như thế nào?
Khâm liệm là lớp nghi lễ gói thân thể người đã khuất vào vải liệm trước khi đặt vào quan tài. Theo ghi chép của Phan Kế Bính, nhà giàu thì dùng vóc nhiễu tơ lụa, còn nhà thường dùng vải trắng, may thành đại liệm và tiểu liệm; đại liệm gồm một mảnh dọc và năm mảnh ngang; tiểu liệm gồm một mảnh dọc và ba mảnh ngang[2]. Sau khi khâm liệm xong thì nhập quan, tức đặt vào săng[2].
Trong quan tài, nhiều nhà đặt thêm một mảnh ván đục sao Bắc Đẩu thất tinh, và trước khi nhập quan phải chọn giờ tránh tuổi, dùng bùa dán trong ngoài quan tài. Có nơi cho rằng nếu người mất phải giờ xấu thì bỏ vào quan tài một cỗ bài tổ tôm, hoặc một quyển lịch Tàu, lịch ta, hoặc tàu lá gồi để trấn áp[2].
Cần nói rõ: đây là ghi chép về tập tục, không phải lời khẳng định những vật ấy có hiệu lực. Chính Phan Kế Bính cũng viết ở cuối mục Tang ma rằng nên nghĩ cách giảm bớt phiền văn và bỏ bớt ăn uống, để người giàu đỡ tốn của và người nghèo khỏi vay công lĩnh nợ[2].
Phát tang, tức lễ thành phục, là gì?
Phát tang là tên gọi theo tục của lễ thành phục: Gia lễ giản yếu chú rằng lễ thành phục là khi đã xong các thứ áo trở thì làm lễ để mặc, tục gọi là lễ phát tang[3]. Vũ trung tùy bút giải thích lễ thành phục nghĩa là sau khi đã liệm thì người trong họ theo thứ tự năm bậc làm lễ mặc áo để tang[4]. Việt Nam phong tục ghi lễ này làm sau khi mất vài ba hôm, lúc công việc đã lo liệu đâu đấy[2].
Phạm Đình Hổ, trong Vũ trung tùy bút, than phiền rằng thế tục đương thời đã biến lễ thành phục thành dịp ăn uống linh đình: soạn văn tế, giảng nghi tiết, rồi chén anh chén chú, bàn tán huyên thiên, chẳng khác nào một cuộc khánh hội[4]. Theo lễ cổ, ông cũng phân định rõ ràng rằng: lễ điện chỉ được thực hiện ở lễ cúng tổ và lễ khiển điện; trái lại, lễ tế ngu, tế phục, tế đại tường, tiểu tường, đàm tất đều thuộc lễ tế; còn vào những dịp triêu tịch thượng thực hay tuế thời thường tân thì chỉ dâng lễ cúng mà không tế[4].
Sự phân biệt này quan trọng, vì trong các bản kể hiện nay, hai chữ "cúng" và "tế" thường bị dùng lẫn. Theo cách hiểu của Phạm Đình Hổ, cúng là dâng lễ thường ngày, còn tế là nghi thức có văn tế và nghi tiết đầy đủ, chỉ dùng ở những mốc nhất định.
Các tuần thất có gốc từ đâu, và mốc ba ngày là lễ gì?
Phạm Đình Hổ ghi nhận rằng các lễ tuần thất thất (bốn chín ngày), tuần trăm ngày, lễ cáo hè, lễ điện hè, lễ tống hè, lễ Trung nguyên đốt mã đều theo lễ nhà Phật, không phải lễ cổ nhân[4]. Ông giải thích thuyết Phật cho rằng người chết cứ bảy ngày một lần bị duyệt án ở tòa vua Diêm Vương, đến tháng hè thì âm phủ thương những kẻ tù tội đang lúc nắng nực, có lúc xét hỏi để đại xá[4].
Về mốc ba ngày, các sách gia lễ không gọi là "lễ ba ngày" mà gọi là tế ngu. Gia lễ giản yếu ghi táng xong đến ngày thứ ba thì làm lễ ngu, và chú rằng ngu nghĩa là an, làm lễ an thần[3]. Việt Nam phong tục ghi an táng rồi trở về nhà lại tế, gọi là ngu tế, làm ba lần (sơ ngu, tái ngu, tam ngu) nhưng chỉ nhà phú quý mới có; trong ba ngày sau khi chôn, mỗi buổi chiều con cái ra viếng mộ[2]. Còn cả đám tang kéo dài mấy ngày thì tùy nơi. Trong ghi chép của Đại Đoàn Kết về xã Cấn Hữu (huyện Quốc Oai cũ, nay thuộc Hà Nội), đám ma người già được tổ chức trong ba ngày: ngày đầu trình báo chính quyền, dựng rạp, báo tin cho bà con làng xóm; ngày thứ hai tổ chức múa Thập ân vào ban đêm, có phường Bát âm cử nhạc; ngày thứ ba chọn giờ lành đưa ma ra đồng[5]. Đây là ghi chép ở một địa phương cụ thể vào khoảng năm 1966, không phải mô tả chung cho cả miền Bắc.
Bảng đối chiếu các lớp nghi lễ chính
| Lớp nghi lễ | Tên gọi thường gặp | Việc chính | Nguồn ghi |
|---|---|---|---|
| Trước khâm liệm | Ngậm hàm, hạ tịch, hú vía | Đặt tiền, gạo vào miệng; đưa xuống đất rồi đưa lên; hú vía ba tiếng | Việt Nam phong tục[2] |
| Khâm liệm | Đại liệm, tiểu liệm | Gói thân thể bằng vải liệm theo quy cách | Việt Nam phong tục[2] |
| Nhập quan | Nhập quan, trị quan | Đặt vào quan tài; có nơi chọn giờ, dán bùa | Việt Nam phong tục[2] |
| Phát tang | Lễ thành phục | Tang chủ nhận tang, họ hàng mặc áo tang theo năm bậc | Vũ trung tùy bút[4] |
| Cúng hằng ngày | Triêu tịch thượng thực | Dâng lễ cúng, không tế | Vũ trung tùy bút[4] |
| Tuần thất | Thất thất, trăm ngày | Lễ theo chu kỳ bảy ngày, gốc nhà Phật | Vũ trung tùy bút[4] |
| Ba ngày sau khi táng | Tế ngu, viếng mộ | Tế để yên hồn phách người mất; con cái ra viếng mộ | Gia lễ giản yếu[3], Việt Nam phong tục[2] |
Những khác biệt giữa các nguồn cần lưu ý
Ba nguồn chính của bài này không hoàn toàn thống nhất. Việt Nam phong tục ghi trình tự theo kinh nghiệm quan sát ở miền Bắc đầu thế kỷ 20. Vũ trung tùy bút viết vào khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, phản ánh cả lễ cổ lẫn lễ đã bị Phật giáo hoá. Gia lễ giản yếu soạn năm 1932 chủ ý cắt gọn, nên bỏ nhiều chi tiết mà hai nguồn kia còn giữ[3]. Đọc chồng ba nguồn sẽ thấy cùng một mốc như phát tang được gọi bằng những tên khác nhau, và một số nghi lễ như múa Thập ân chỉ xuất hiện ở ghi chép địa phương.
Trong bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2013, Đỗ Lan Hiền đưa ra một góc nhìn khác: tác giả tìm hiểu các triết thuyết Nho giáo, Phật giáo, Công giáo cùng những quan niệm trong y thuật, phong thủy, tử vi để giải thích ý nghĩa một số nghi thức, đồng thời lên tiếng phê phán những hiện tượng như xem ngày giờ, yểm bùa, đốt vàng mã, rải tiền thật trên đường đưa tang, xây lăng mộ đồ sộ chiếm đất nghĩa trang. Trong chương Tế thống của Kinh Lễ, tác giả trích dẫn lời Khổng Tử rằng khi cha mẹ qua đời, con cái buộc phải lo liệu tang ma tế lễ, song nên thực hiện giản tiện, bởi điều cốt yếu nhất là tấm lòng thành kính chứ không phải nhờ lễ vật cúng tế mà thành[6].
Cần phân biệt hai tầng trong bài của Đỗ Lan Hiền: phần thuật lại triết thuyết và phần phê phán thực trạng là hai việc khác nhau. Bài viết này chỉ thuật lại cả hai, không đứng về phía nào.
Vì sao tang lễ miền Bắc lại nhiều lớp như vậy?
Tang lễ Việt Nam nói chung, miền Bắc nói riêng, chịu ảnh hưởng đồng thời của ba dòng: Nho giáo với quan niệm hiếu đễ và hệ thống tang phục năm bậc; Phật giáo với các tuần thất và lễ cầu siêu; và tín ngưỡng dân gian với việc chọn giờ, trấn áp, kiêng kỵ[1][2][4]. Ba dòng này không thay thế nhau mà chồng lên nhau, tạo thành cấu trúc nhiều lớp mà người ngoài nhìn vào dễ thấy rối.
Trong quan niệm dân gian, người đã khuất vẫn có ảnh hưởng tới người sống, nên các nghi lễ được xem là cách vừa tiễn đưa vừa giữ mối liên hệ. Đại Đoàn Kết dẫn lời vua Bảo Đại trong hồi ký Con rồng An Nam: ở đất nước này, quá khứ chi phối hiện tại, người chết ảnh hưởng đến người sống hơn cả người sống đối với nhau[5]. Đây là lời của một nhân vật lịch sử được báo thuật lại, không phải kết luận của bài.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Nếu bạn đang tìm hiểu để chuẩn bị cho một đám tang trong gia đình, điều hữu ích không phải là học thuộc danh sách nghi lễ, mà là biết mỗi nghi lễ thuộc tầng nào: tầng gia lễ (thành phục, tế ngu, đại tường), tầng Phật giáo (tuần thất, cầu siêu), hay tầng dân gian (chọn giờ, trấn áp). Biết tầng nào thuộc tầng nào sẽ giúp bạn quyết định giữ hay bỏ mà không sợ làm sai lễ. Các sách gia lễ như Gia lễ giản yếu soạn ra chính là để giúp việc ấy, và bản thân Phan Kế Bính cũng đã khuyên giảm bớt phiền văn từ hơn một trăm năm trước[2][3].
