Tri thức / Việt Nam

Phật giáo

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông xuất gia, ba vị tổ và tư tưởng cư trần lạc đạo

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông xuất gia, ba vị tổ và tư tưởng cư trần lạc đạo

TL;DR: Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền do vua Trần Nhân Tông sáng lập cuối thế kỷ 13, sau khi ông xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, tự xưng Trúc Lâm Đại Sĩ. Phái gồm ba vị tổ: Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Tư tưởng cốt lõi là cư trần lạc đạo: không rời bỏ cõi trần để tìm giải thoát, mà sống ngay giữa đời thường, giữ tâm thanh tịnh, tùy duyên mà vui với đạo.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử hình thành trong bối cảnh nào?

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời vào cuối thế kỷ 13, gắn liền với tên tuổi vua Trần Nhân Tông sau khi ông rời ngôi và đi tu. Trước đó, Phật giáo Đại Việt đã có nhiều dòng thiền truyền vào từ phương Bắc như Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, phần lớn do các thiền sư gốc Trung Hoa khai sáng hoặc truyền tiếp. Bài của Trương Thu Thanh (Thích Nữ Linh Thủy) công bố năm 2024 trên The Journal of International Buddhist Studies College nhìn Trúc Lâm như kết quả tổng hợp các dòng thiền đang có ở Đại Việt thời ấy thành một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam. Đây là kết quả nghiên cứu chưa được lặp lại nhiều lần, nên nên đọc cùng các nghiên cứu phê bình khác.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, phần bản kỷ quyển 5 và quyển 6, do Ngô Sĩ Liên và cộng sự biên soạn, bản khắc năm 1697, vào tháng 11 năm Mậu Thân (năm 1308 theo dương lịch), "thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử". Lúc ấy thượng hoàng đã xuất gia, ở đỉnh Tử Tiêu trên núi Yên Tử, tự xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ. Sử còn chép việc ngài xuống núi thăm chị là Thiên Thụy đang bệnh nặng, dặn chị nếu có gặp quỷ thần hỏi việc thì trả lời xin đợi em là Trúc Lâm Đại Sĩ tới; nói xong trở về núi, dặn dò thị giả Pháp Loa việc hậu sự, rồi ngồi mà hóa, chị cũng mất cùng ngày[1]. Sử gia Ngô Sĩ Liên bình rằng việc xuất gia của vua là "không hợp với đạo trung dung", bậc hiền thì có phần quá đà; đây là lời bình của sử quan Nho gia đời sau, không phải lời của vua[1].

Trần Nhân Tông xuất gia và sáng lập phái Trúc Lâm ra sao?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Nhân Tông sinh năm Mậu Ngọ (1258), ở ngôi 14 năm, nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông năm Quý Tỵ (1293) rồi làm Thượng hoàng. Tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia, vào núi Yên Tử tu khổ hạnh. Ngài ở đỉnh Tử Tiêu, tự xưng Trúc Lâm Đại Sĩ, và mất ở am Ngọa Vân năm 1308[1]. Sách An Nam chí lược của Lê Tắc chép rằng ở động Vũ Lâm, xưa có Trần Nhân vương, "quốc chủ đời thứ tư" của An Nam, bỏ ngôi ẩn cư trong đó để thành đạo, hiệu là Trúc Lâm đạo sĩ, có tập thơ Hương Hải ấn truyền ở đời[2]. Sách ghi nơi ở là động Vũ Lâm, không phải núi Yên Tử như Toàn thư.

Theo truyền thống của phái, Trần Nhân Tông được tôn là Sơ tổ; Pháp Loa là Nhị tổ; Huyền Quang là Tam tổ. Sách Phật giáo với Nho giáo của Nguyễn Hữu Tiến (1935) chép rằng tổ Huyền Quang tịch ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất, sách gọi ngài là tự pháp Huyền Quang tôn giả, nối dòng đức tổ Điều Ngự Pháp Hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) và đức tổ Pháp Loa, và nói người ta tôn ba vị ấy là Trúc Lâm tam tổ[3]. Đây là tư liệu của một tác giả nửa đầu thế kỷ 20, viết theo truyền thống, không phải văn bản đương thời.

Ba vị tổ Trúc Lâm gồm những ai?

Ba vị tổ Trúc Lâm theo truyền thống của phái là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Sử chép việc Trần Nhân Tông trước khi mất đã giao việc hậu sự cho thị giả Pháp Loa, và sau khi hỏa táng thu được hơn ba ngàn hạt xá lợi, đưa về chùa Tư Phúc ở kinh đô; vua kế vị nghi ngờ, nhiều đại thần xin trị tội Pháp Loa, nhưng thái tử Mạnh mới chín tuổi trong lòng bỗng có mấy hạt xá lợi, đem ra cho vua xem, kiểm trong hộp thì thấy thiếu đúng mấy hạt ấy, vua cảm động rơi lệ, ý nghi mới tan[1]. Chi tiết này cho thấy vị trí của Pháp Loa trong việc kế tục sự nghiệp của Trần Nhân Tông đã được ghi nhận ngay trong chính sử.

Huyền Quang là vị tổ thứ ba. Theo Phật giáo với Nho giáo của Nguyễn Hữu Tiến, ngài vốn xuất thân Nho học, từng đỗ đạt và làm quan, sau đó đi tu và được tôn làm tổ thứ ba của phái[3]. Đây là điểm đáng chú ý: dòng Trúc Lâm không chỉ thu nhận người xuất thân từ Phật giáo, mà còn thu hút cả giới Nho sĩ, điều phản ánh sự giao thoa giữa các truyền thống tư tưởng trong xã hội Đại Việt đương thời.

Bảng đối chiếu ba vị tổ:

Vị tổTênHiệu, danh xưngVai trò trong phái
Sơ tổTrần Nhân TôngĐiều Ngự Pháp Hoàng, Trúc Lâm Đại SĩSáng lập phái, để lại Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Nhị tổPháp LoaĐức tổ Pháp LoaKế tục sự nghiệp, được giao việc hậu sự của sơ tổ
Tam tổHuyền QuangHuyền Quang tôn giảNối dòng Điều Ngự và Pháp Loa, xuất thân Nho học

Cư trần lạc đạo nghĩa là gì?

Cư trần lạc đạo nghĩa là sống giữa cõi trần mà vẫn vui với đạo, không buộc phải rời bỏ đời thường để tu hành. Đây là tinh thần cốt lõi của phái Trúc Lâm, thể hiện rõ nhất trong bài phú Nôm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông. Văn bản trên Wikisource ghi lại bài phú gồm mười hội, kết thúc bằng bài kệ chữ Hán bốn câu: "Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối kính vô tâm mạc vấn thiền"[4]. Bốn câu này tóm gọn tinh thần của phái: sống giữa trần, vui với đạo, tùy duyên; đói thì ăn, mệt thì ngủ; trong nhà sẵn có của báu, đừng tìm đâu khác; đối diện với mọi cảnh mà lòng vô tâm thì không cần hỏi thiền nữa.

Ở hội thứ tám của Cư trần lạc đạo phú, tác giả bàn kỹ hơn về phương thức tu tập: cần công phu rèn luyện, đừng đoạn tuyệt việc học; giữ vững ý thức, chớ cố chấp chằng chằng; kìm nén vọng tưởng, đừng để còn xóc xóc; công danh đắm say đó đều là những kẻ ngây thơ; phúc tuệ đầy đủ mới đáng bậc người thực cốc; dựng cầu đò, dồi chiền tháp thì bề ngoài là trang nghiêm sự tướng, vẫn nên tu; săn hỷ xả, nhuyễn từ bi thì bên trong là kinh lòng hằng đọc[4].

Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca nói gì thêm?

Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là bài ca Nôm khác của Trần Nhân Tông, đi cặp với Cư trần lạc đạo phú, nói về thú ở núi rừng mà thành đạo. Văn bản trên Wikisource ghi lại nhiều câu như "Đem mình náu tới, Cảnh vắng ngàn kia; Dốc chí tu hành", "Công danh chẳng trọng, Phú quý chẳng màng; Tần Hán xưa kia, Xem đà nhèn hạ", "Vượn mừng hủ hỷ, Làm bạn cùng ta; Vắng vẻ ngàn kia, Thân lòng hỷ xả", "Thanh nhàn vô sự, Quét tước đài hoa; Thờ phụng bụt trời, Đêm ngày hương hỏa", và kết bằng bốn câu kệ chữ Hán: "Cảnh tịch an cư tự tại tâm, Lương phong xuy đệ nhập tùng âm. Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển, Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim)"[5]. Bài này cho thấy một phương diện khác của cùng một con người: bên cạnh tinh thần cư trần lạc đạo, còn có tinh thần lâm tuyền, tức lui về chốn rừng núi vắng vẻ để tu.

Hai bài này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau. Cư trần lạc đạo phú nói về sống giữa đời mà vui với đạo; Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca nói về lui về rừng núi mà thành đạo. Cả hai đều nhấn mạnh rằng chỗ tu không nằm ở hoàn cảnh bên ngoài, mà ở tâm người tu.

Phái Trúc Lâm kế thừa những dòng thiền nào?

Phái Trúc Lâm không xuất hiện từ hư không mà kế thừa các dòng thiền đã có ở Đại Việt trước đó, đồng thời chịu ảnh hưởng của Thiền tông Trung Hoa. Các dòng thiền truyền vào Đại Việt trước thời Trần như Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đều có nguồn gốc từ Trung Hoa. Bài của Trương Thu Thanh (2024) nhìn Trúc Lâm như sự tổng hợp các dòng thiền ấy thành một dòng thiền Việt Nam.

Về mặt văn bản, Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông có nhiều câu nhắc tới các vị tổ Thiền tông Trung Hoa như Mã Tổ, Tiêu Hoàng, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Yển lão, Tồn ông. Đệ cửu hội của bài phú ghi: "Cơ quan tổ giáo, Tuy khác nhiều đàng (đường), Chẳng cách mấy gang. Chỉn xá nói từ sau Mã tổ; Ắt đã quen thuở trước Tiêu Hoàng"[4]. Điều này cho thấy tác giả quen với các điển tích của Thiền tông Trung Hoa.

Vì sao gọi là Trúc Lâm Yên Tử?

Tên phái gắn với hai địa danh: Trúc Lâm là hiệu của Trần Nhân Tông (Trúc Lâm Đại Sĩ), còn Yên Tử là tên núi nơi ngài tu hành và mất. Sử chép ngài ở đỉnh Tử Tiêu trên núi Yên Tử, tự xưng Trúc Lâm Đại Sĩ, và mất ở am Ngọa Vân[1]. An Nam chí lược của Lê Tắc chép động Vũ Lâm là nơi vua nhà Trần bỏ ngôi ẩn cư thành đạo, hiệu Trúc Lâm đạo sĩ[2]; địa danh sách ấy ghi khác với Yên Tử của Toàn thư.

Yên Tử là một dãy núi ở vùng Đông Bắc, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Trước thời Trần, Yên Tử đã là nơi tu hành của các thiền sư. Việc Trần Nhân Tông chọn Yên Tử làm nơi tu và mất đã gắn chặt tên núi này với phái Trúc Lâm.

Cư trần lạc đạo khác gì với quan niệm xuất gia truyền thống?

Cư trần lạc đạo không phủ nhận xuất gia, mà mở rộng con đường tu cho cả người tại gia. Trong truyền thống Phật giáo, xuất gia là con đường chính để tu hành giải thoát. Cư trần lạc đạo cho rằng người sống giữa đời vẫn có thể tu được, miễn là giữ tâm thanh tịnh, không chấp vào cảnh, tùy duyên mà sống.

Bài kệ kết của Cư trần lạc đạo phú nói: "Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối kính vô tâm mạc vấn thiền"[4]. Nghĩa là của báu đã sẵn trong nhà, đừng tìm đâu khác; đối diện với cảnh mà lòng vô tâm thì không cần hỏi thiền nữa. Đây là cách nói của Thiền tông: Phật tính sẵn có trong mỗi người, không cần tìm cầu bên ngoài. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không cần tu; đệ bát hội vẫn nhấn mạnh phải rèn luyện, phải giữ ý thức, phải nén vọng tưởng[4].

Nghiên cứu hiện đại nhìn Trúc Lâm thế nào?

Nghiên cứu năm 2024 của Trương Thu Thanh khẳng định vai trò tổng hợp của Trúc Lâm: nhiều dòng thiền khác nhau được hợp nhất thành một dòng thiền Việt Nam, còn những giáo lý nòng cốt thì có thể lần theo qua các trước tác do nhà vua để lại. Đây là kết quả nghiên cứu của một tác giả trong truyền thống, cần đọc cùng các nghiên cứu phê bình khác để có cái nhìn cân bằng.

Tóm lược

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời cuối thế kỷ 13, gắn với vua Trần Nhân Tông sau khi ông xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử[1]. Ba vị tổ của phái là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang[3]. Tư tưởng cốt lõi là cư trần lạc đạo, thể hiện trong Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca: sống giữa đời mà vui với đạo, tu ngay trong cõi trần, giữ tâm thanh tịnh và tùy duyên[4][5]. Theo Trương Thu Thanh, đó là một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do ai sáng lập?

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập vào cuối thế kỷ 13, sau khi ông nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng rồi xuất gia và tu ở núi Yên Tử, lấy hiệu Trúc Lâm Đại Sĩ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngài ở đỉnh Tử Tiêu trên núi Yên Tử và mất ở am Ngọa Vân năm 1308.

Cư trần lạc đạo nghĩa là gì?

Cư trần lạc đạo nghĩa là sống giữa cõi trần mà vẫn vui với đạo, không buộc phải rời bỏ đời thường để tu hành. Tinh thần này thể hiện trong bài kệ kết của Cư trần lạc đạo phú: sống giữa trần, tùy duyên, đói thì ăn, mệt thì ngủ, của báu sẵn trong nhà, đối diện với cảnh mà lòng vô tâm thì không cần hỏi thiền nữa.

Ba vị tổ của phái Trúc Lâm là ai?

Ba vị tổ của phái Trúc Lâm theo truyền thống của phái là Trần Nhân Tông (Sơ tổ), Pháp Loa (Nhị tổ) và Huyền Quang (Tam tổ). Theo sách Phật giáo với Nho giáo của Nguyễn Hữu Tiến (1935), Huyền Quang vốn xuất thân Nho học, từng đỗ đạt làm quan rồi đi tu, được tôn làm tổ thứ ba của phái.

Đọc tiếp

Tín ngưỡng dân gian · Phật giáo: kinh điển, ngày lễ và đời sống

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefNgô Sĩ Liên và cộng sự (1697). Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần: bản kỷ quyển 5 và quyển 6 (大越史記全書), trang 6三日,上皇崩于安子山卧雲庵。時上皇出家,居安子山之紫霄峯,自號竹林大士。
  2. ↑ abLê Tắc (1335). An Nam chí lược (安南志畧), trang 1, mục Sơn武林洞昔安南四世國主陳仁王棄位隠其中以成道號曰竹林道士有香海印詩集傳於世
  3. ↑ abcNguyễn Hữu Tiến (1935). Phật giáo với Nho giáo, trang 3Ngài là một vị Trúc-lâm thiền-sư đệ-tam tổ, được đặc-phong là tự-pháp Huyền-Quang tôn-giả, nối dòng đức tổ Điều-ngự Pháp-hoàng là vua Trần Nhân-tôn và đức tổ Pháp-loa, người ta tôn ba vị ấy là Trúc-lâm tam-tổ.
  4. ↑ abcdefTrần Nhân Tông (không rõ năm). Cư trần lạc đạo phú, trang 1, Kệ vân và Đệ bát hộiCư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối kính vô tâm mạc vấn thiền.
  5. ↑ abTrần Nhân Tông (không rõ năm). Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, trang 1, phần kệ kếtCảnh tịch an cư tự tại tâm, Lương phong xuy đệ nhập tùng âm. Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển, Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).

Đọc thêm

#ThiềnPháiTrúcLâm#TrúcLâmYênTử#TrầnNhânTông#CưTrầnLạcĐạo#PhậtGiáoViệtNam#CưTrầnLạcĐạoPhú#ĐắcThúLâmTuyềnThànhĐạoCa#BaVịTổTrúcLâm#PhápLoa#HuyềnQuang