
TL;DR: Thời Lý, Phật giáo Đại Việt có ba dòng thiền được sách xưa kể tên: Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Sách Thiền uyển tập anh chép ba dòng này dựa theo lối truyền đăng lục của Trung Hoa; trong khi đó, công trình nghiên cứu hiện đại của Cuong Tu Nguyen (1997) lại nhìn nhận đây là sản phẩm của người biên soạn thế kỷ 14 khi họ tái cấu trúc quá khứ, đồng thời cho thấy Phật giáo thời Lý phong phú hơn chứ không chỉ thuần nhất một dòng Thiền tông như sách đã khắc họa.
Ba dòng thiền thời Lý là gì?
Ba dòng thiền thời Lý là ba phái thiền được sách Thiền uyển tập anh ghi lại: dòng Tì Ni Đa Lưu Chi, dòng Vô Ngôn Thông và dòng Thảo Đường. Cả ba đều gắn với tên một vị sư khai sáng truyền từ ngoài vào Đại Việt, rồi truyền trong nước qua nhiều đời. Sách xưa kể họ như ba truyền thừa riêng biệt, còn nghiên cứu hiện đại đọc lại các bản kể ấy như một cách sắp xếp quá khứ của người soạn đời Trần.
Sách xưa ghi ba dòng này thế nào?
Nguồn chính cho cả ba dòng là Thiền uyển tập anh, bộ sách soạn khoảng thế kỷ 14, ghi tiểu sử và ngữ lục của các thiền sư Việt Nam. Trong chương ba cuốn Zen in Medieval Vietnam (University of Hawaii Press, 1997), Cuong Tu Nguyen đọc lại bộ sách này và nhận định rằng nó được biên soạn theo khuôn mẫu của các bộ truyền đăng lục Trung Hoa. Từ đó, ông cho rằng ba dòng truyền thừa trong đó phản ánh cách người soạn hậu thế tái cấu trúc quá khứ, chứ không phải là bản ghi trung thực về sinh hoạt Phật giáo thời Lý. Đây là luận điểm học thuật, không phải kết luận đã được mọi nhà nghiên cứu đồng thuận.
Một nguồn khác, Phật giáo triết học của Phan Văn Hùm (Tân Việt, 1942), chia lịch sử Phật giáo xứ Nam làm bốn thời kỳ. Theo cách chia này, thời kỳ thứ hai là thời kỳ Tì Ni Đa Lưu Chi đem truyền Thiền tông ở Bắc Kỳ và lập ở Bắc Ninh khoảng năm 580 một phái mang tên mình. Thời kỳ thứ ba thuộc thế kỷ thứ chín, khi Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu sang An Nam, vào ở chùa Kiến Sơ, lập một phái thiền mới dùng phép Bích Quan của Bồ-tát Đạt Ma. Thời kỳ thứ tư vào thế kỷ thứ mười một, các vua thời ấy chọn một vị thiền sư người Tàu tên Thảo Bưởng ở Chiêm Thành đem về làm thầy, và Phan Văn Hùm gọi đó là thời kỳ phái thiền tôn An Nam phát hiện. Cần lưu ý Phan Văn Hùm viết theo lối khảo cứu đầu thế kỷ 20, tên chùa và địa danh trong sách nay đã đổi khác.
Tì Ni Đa Lưu Chi
Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) là vị sư Ấn Độ theo truyền thống được cho là đến Đại Việt khoảng thế kỷ thứ sáu và lập dòng thiền mang tên mình. Truyền thống quy cho ông là đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán bên Trung Hoa, nhưng nghiên cứu hiện đại không coi chi tiết này là đã chứng minh.
Vô Ngôn Thông
Vô Ngôn Thông là vị sư Trung Hoa sang Đại Việt thế kỷ thứ chín, theo truyền thống vào ở chùa Kiến Sơ và lập dòng thiền mới. Dòng này được sách xưa kể là truyền thừa nối tiếp qua nhiều đời sư Việt. Cách hành trì gắn với phép Bích Quan mà Phan Văn Hùm ghi lại, tức lối ngồi thiền quán tường bích theo truyền thống Đạt Ma. Cũng như dòng Tì Ni Đa Lưu Chi, các chi tiết về năm sinh, năm đến và quan hệ thầy trò của Vô Ngôn Thông trong sách xưa không được nghiên cứu hiện đại xác nhận đầy đủ.
Thảo Đường
Thảo Đường là vị sư người Trung Hoa. Phan Văn Hùm viết tên ông là Thảo Bưởng, ở Chiêm Thành, và kể rằng các vua thế kỷ thứ mười một chọn ông làm thầy; ông gọi đó là thời kỳ phái thiền tôn An Nam phát hiện. Cách gọi và đánh giá ấy cần đọc như quan điểm của một nhà khảo cứu đầu thế kỷ 20, không phải kết luận chung của giới nghiên cứu ngày nay[2].
Ba dòng thiền này khác nhau ở đâu?
Bảng dưới đối chiếu các điểm chính mà sách xưa và nghiên cứu hiện đại ghi nhận. Cột "theo sách xưa" dựa trên Thiền uyển tập anh và cách tóm tắt của Phan Văn Hùm (1942); cột "theo nghiên cứu" dựa trên luận điểm của Cuong Tu Nguyen (1997) và các nghiên cứu phê bình khác.
| Điểm đối chiếu | Tì Ni Đa Lưu Chi | Vô Ngôn Thông | Thảo Đường |
|---|---|---|---|
| Người khai sáng theo sách xưa | Sư Ấn Độ, được cho là đệ tử Tam Tổ Tăng Xán | Sư Trung Hoa từ Quảng Châu | Sư Trung Hoa, ở Chiêm Thành theo Phan Văn Hùm |
| Thời điểm theo sách xưa | Khoảng năm 580, lập phái ở Bắc Ninh (theo Phan Văn Hùm) | Khoảng thế kỷ thứ chín, vào chùa Kiến Sơ | Thế kỷ thứ mười một |
| Phương pháp hành trì | Thiền tông truyền từ Trung Hoa | Bích Quan theo truyền thống Đạt Ma | Thiền tông |
| Cách nghiên cứu hiện đại đọc | Truyền thừa có thể được hậu thế dựng lại | Truyền thừa có thể được hậu thế dựng lại | Truyền thừa có thể được hậu thế dựng lại |
Vì sao nghiên cứu hiện đại đọc lại các dòng này?
Cuong Tu Nguyen (1997) lập luận rằng Thiền uyển tập anh không phải bản ghi trung thực của sinh hoạt Phật giáo thời Lý, mà là một tác phẩm được soạn theo khuôn truyền đăng lục Trung Hoa. Theo ông, người soạn thế kỷ 14 đã sắp xếp lại quá khứ Phật giáo Việt Nam thành các dòng truyền thừa có tổ có đệ tử, giống như các bộ truyền đăng lục bên Trung Hoa. Điều này không có nghĩa ba dòng thiền không tồn tại, mà có nghĩa hình ảnh ba dòng thuần nhất và liên tục có thể là sản phẩm của việc biên tập.
Luận điểm này quan trọng vì nó mở ra một cách đọc khác: Phật giáo Việt Nam thời Lý, Trần có thể đa dạng hơn hình ảnh thuần Thiền tông mà sách dựng. Có thể đã có nhiều lối tu, nhiều truyền thống, nhiều ảnh hưởng khác nhau cùng tồn tại, và việc gom lại thành ba dòng thiền là cách nhìn của hậu thế. Đây là kết quả nghiên cứu học thuật, chưa được mọi nhà nghiên cứu đồng thuận hoàn toàn, nhưng nó đặt lại câu hỏi về cách đọc sử liệu Phật giáo.
Ba dòng này liên quan gì tới Thiền phái Trúc Lâm?
Theo cách trình bày thường gặp, Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập vào cuối thế kỷ 13 được xem như sự hợp nhất các dòng thiền đang hiện diện tại Đại Việt lúc bấy giờ. Trương Thu Thanh (Thích Nữ Linh Thủy), trong bài đăng trên The Journal of International Buddhist Studies College năm 2024, phân tích quan điểm của Trần Nhân Tông khi lập Trúc Lâm và cho rằng đây là sự tổng hợp các dòng thiền hiện có thành một dòng thiền Việt Nam. Tác giả là người trong truyền thống, nên bài cần đọc cùng nghiên cứu phê bình. Nếu đọc theo hướng của Cuong Tu Nguyen (1997), việc Trúc Lâm gom các dòng lại cũng có thể xem là một lần nữa sắp xếp lại quá khứ, lần này theo nhu cầu của một triều đại đã độc lập.
Đọc ba dòng này hôm nay cần lưu ý gì?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi đọc về ba dòng thiền thời Lý, nên phân biệt ba tầng thông tin. Tầng thứ nhất là điều sách xưa nói, ví dụ Thiền uyển tập anh ghi tên các vị sư và truyền thừa. Tầng thứ hai là điều nghiên cứu hiện đại kết luận, ví dụ luận điểm của Cuong Tu Nguyen (1997) rằng sách được soạn theo khuôn truyền đăng lục. Tầng thứ ba là điều truyền thống trong các chùa kể lại, thường giàu chi tiết hơn cả hai tầng trên nhưng không phải lúc nào cũng có nguồn kiểm chứng. Giữ ba tầng tách biệt giúp tránh nhầm một câu chuyện truyền thống thành sự kiện lịch sử đã được xác nhận.
Một điểm nữa là địa danh. Phan Văn Hùm ghi chùa Kiến Sơ ở tỉnh Phú Thọ, nhưng cách ghi địa danh trong sách cũ có thể không khớp địa giới hiện nay; khi tra cứu nên đối chiếu thêm các nguồn khác và ghi rõ mốc thời gian khi trích dẫn.
