Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Tiến thần thoái thần trong Lục Hào là gì? Cách nhận diện và luận đoán theo Tăng san bốc dịch

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Tiến thần thoái thần trong Lục Hào là gì? Cách nhận diện và luận đoán theo Tăng san bốc dịch

TL;DR: Tiến thần và thoái thần là hai quy tắc luận hào động trong Lục Hào, căn cứ vào hào động biến ra hào mới cùng hành với nó. Nếu chi của hào biến đi theo chiều tăng của hành thì gọi là tiến thần, đi theo chiều giảm thì gọi là thoái thần. Sách Tăng san bốc dịch liệt kê 7 cặp tiến và 7 cặp thoái, đồng thời nhấn mạnh phải xét cả ngày tháng và các yếu tố sinh khắc, không máy móc theo tên gọi.

Tiến thần thoái thần trong Lục Hào là gì?

Tiến thần và thoái thần là hai thuật ngữ của môn Lục Hào, dùng để chỉ chiều vận động của một hào khi nó động và biến ra hào khác. Khi hào động biến ra hào mới có cùng hành với hào cũ, người ta so chi của hai hào để xem nó đang đi lên hay đi xuống trong vòng 12 chi. Chi đi lên theo thứ tự Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi thì gọi là tiến, chi đi ngược lại thì gọi là thoái. Cách hiểu này đã có từ lâu trong dòng bốc phệ, và được sách Tăng san bốc dịch hệ thống hóa lại thành một chương riêng, chương thứ 29, mang tên "Tiến thần thoái thần".

Sách mở đầu chương bằng định nghĩa: tiến thoái là chuyện của hào động biến ra hào khác, và tùy theo việc đang hỏi mà cái mình mong thì nên tiến, cái mình sợ thì nên thoái. Nói cách khác, tiến hay thoái không tự nó tốt hay xấu, mà phải đặt vào câu hỏi cụ thể.

Bảng nhận diện tiến thần và thoái thần

Sách Tăng san bốc dịch liệt kê đủ các cặp, dựa trên nguyên tắc cùng hành và đi theo chiều tăng hoặc giảm của chuỗi 12 chi. Bảng dưới đây tóm lại đúng các cặp mà sách ghi.

HànhTiến thần (đi lên)Thoái thần (đi xuống)
ThủyHợi hóa TýTý hóa Hợi
MộcDần hóa MãoMão hóa Dần
HỏaTỵ hóa NgọNgọ hóa Tỵ
KimThân hóa DậuDậu hóa Thân
ThổSửu hóa Thìn, Thìn hóa Mùi, Mùi hóa TuấtTuất hóa Mùi, Mùi hóa Thìn, Thìn hóa Sửu

Điểm cần lưu ý là hành Thổ có tới ba cặp tiến và ba cặp thoái, vì Thổ nằm ở bốn chi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất theo thứ tự tăng dần. Các hành khác chỉ có một cặp, do mỗi hành chỉ chiếm hai chi trong vòng 12 chi.

Vì sao tiến thần được xem là đi lên, thoái thần là đi xuống?

Cách giải thích được sách đưa ra khá hình ảnh. Tiến thần được ví như cây cỏ mùa xuân, cành lá sum suê, còn thoái thần được ví như cây cỏ mùa thu, dần dần rụng lá. Cách ví này cho thấy tiến thoái không chỉ là chuyện của chi, mà còn gắn với thời tiết và nhịp sinh trưởng.

Trong chương này, tác giả Dã Hạc lão nhân còn chia tiến thần thành bốn trường hợp, tùy theo trạng thái của hào động và hào biến:

  • Hào động đang vượng, biến ra hào cũng vượng: tiến ngay theo thế đang lên.
  • Hào động đang suy, biến ra hào cũng suy: phải chờ thời mới tiến được.
  • Một trong hai hào đang suy: phải chờ đến ngày hào ấy vượng mới tiến.
  • Một trong hai hào gặp không vong hoặc nguyệt phá: phải chờ đến ngày thực không, thực phá mới tiến.

Với thoái thần cũng có bốn trường hợp tương tự, nhưng chiều ngược lại: có khi đang vượng nên chưa thoái ngay, có khi đang suy nên thoái ngay, có khi phải chờ hào suy mới thoái, có khi phải chờ ngày thực không thực phá mới thoái.

Làm sao phân biệt tiến thần với các trường hợp hóa khác?

Tiến thần chỉ là một trong nhiều kiểu hóa của hào động. Người mới học thường nhầm tiến thần với hóa sinh, hóa khắc, hóa không vong, hóa nguyệt phá, hoặc hóa ngược trở lại hào cũ. Cách phân biệt gọn nhất là xét hai điểm: hào biến có cùng hành với hào động hay không, và chi của hào biến có đi theo chiều tăng của hành ấy hay không.

  • Nếu cùng hành và chi đi lên: tiến thần.
  • Nếu cùng hành và chi đi xuống: thoái thần.
  • Nếu khác hành: không phải tiến thoái, mà là hóa sinh, hóa khắc hay hóa thành hành khác.
  • Nếu hào biến quay về khắc hào động: gọi là hóa quay đầu khắc, tính riêng.

Trong chương này có một điểm dễ bị bỏ qua, nằm ở lời Lý Ngã Bình: hào động đã lâm nhật thần hay nguyệt kiến thì "gặp không chẳng phải không, gặp phá chẳng phải phá" (逢空不空,逢破不破), huống chi chỉ là hóa ra không vong, nguyệt phá. Ông ví nhật nguyệt như trời, hào hóa không phá chỉ như mây nổi che mặt trời, tới kỳ thực không, thực phá thì mây tan. Đây là chỗ sách bác lại sách Dịch mạo (易冒), vốn cho rằng hào động lâm nhật nguyệt mà hóa không phá thì "không thềm không lối", không tiến được.

Ví dụ trong Tăng san bốc dịch cho thấy tiến thoái vận hành thế nào?

Sách Tăng san bốc dịch dùng nhiều ví dụ để minh họa, và các ví dụ này cho thấy tiến thoái không đứng một mình mà phải đọc cùng các hào khác.

Trường hợp thứ nhất, ngày Quý Mão tháng Thân, hỏi thi hương, được quẻ Hằng biến Đại Quá. Hào ngũ là Quan Quỷ Thân Kim động, biến ra Dậu Kim, tức tiến thần. Sách luận rằng Dậu Kim làm quan tinh trì Thế đang vượng, lúc ấy ngày Mão xung nên ám động, lại được hào Quan ở ngôi ngũ hóa tiến thần, có Tài sinh phò, nên không chỉ đỗ kỳ này mà còn đỗ tiếp kỳ sau. Kết quả đúng như lời đoán: đương sự thi đỗ liên tiếp.

Trường hợp thứ hai, ngày Ất Sửu tháng Mão, hỏi cầu hôn có thành không. Hào tài trì Thế là Mùi Thổ động, biến ra Tuất Thổ, tức tiến thần, và hào Tử Tôn Tỵ Hỏa động sinh cho Thế. Nhưng Tỵ Hỏa lại hóa Tý Thủy, thành ra quay đầu khắc. Sách luận phải chờ đến ngày Ngọ, khi Ngọ xung khai Tý Thủy và lại hợp với Thế Mùi, thì việc mới thành. Quả nhiên đến ngày Ngọ thì nhà gái nhận lời. Trong quẻ này còn có hào Quan Quỷ Dậu Kim động hóa Thân Kim, tức thoái thần, và sách luận rằng dù có trở ngại thì trở ngại ấy cũng yếu, không đủ phá việc.

Trường hợp thứ ba, ngày Giáp Thìn tháng Dậu, hỏi về việc tự trần tình. Quẻ cho thấy Thế hóa quay đầu khắc, Quan Quỷ hóa thoái thần, Tử Tôn hóa tiến thần. Sách luận cả ba hào đều không phải tượng tốt, là điềm đại hung. Kết quả đúng như lời: sang năm thì bị cách chức và bắt hỏi.

Trường hợp thứ tư, ngày Bính Tuất tháng Sửu, hỏi cha có gửi thư báo đã lên đường, mình đi đón có gặp không. Hào phụ mẫu Tuất Thổ động hóa Mùi Thổ, tức thoái thần, nên đoán cha đã trên đường về. Hào Thế là Thân Kim động hóa Dậu Kim, tức tiến thần, cho thấy người hỏi đang muốn đi. Phụ mẫu sinh Thế, nên chắc chắn gặp nhau vào ngày Mùi. Quả nhiên gặp đúng ngày Mùi.

Các sách khác nói gì về tiến thoái?

Chương này viết ra để bác một thuyết của sách cũ. Sau từng quẻ, sách nhắc lại "cổ pháp": hào động lâm nhật nguyệt mà hóa không vong, nguyệt phá thì coi là không tiến, không thoái; hào động gặp phá, gặp tán mà hóa ra nhật nguyệt thì coi là không kịp tiến thoái. Rồi sách đưa quẻ đã nghiệm để nói ngược lại. Quẻ hỏi đi đón cha ở trên là một ví dụ: hào Tuất hóa Mùi vừa phá vừa không, và ngày Mùi, ngày thực không thực phá, lại chính là ngày ứng.

Cuối chương, sách chép lời Lý Ngã Bình, người được ghi tên là giám định sách. Ông kể lúc đầu đọc Dịch mạo, về sau thấy thuyết "động lâm nhật nguyệt mà hóa không phá thì không tiến" là sai. Với thuyết thứ hai, rằng hào động gặp phá, gặp tán mà biến ra nhật nguyệt là "ngôi đã mất, sao tiến được", ông đáp: đã động mà phá thì có kỳ thực phá, đã động mà tán thì có ngày điền thực; huống chi hóa ra nhật nguyệt gọi là hóa vượng, về sau điền thực càng vượng mạnh, sao lại bảo không tiến. Ông còn nhận xét các chương khác của Dịch mạo đều có quẻ đã nghiệm, riêng chương này chỉ có mấy quẻ mẫu, nên biết đó là lời suy đoán chứ không phải rút từ kinh nghiệm.

Cách đọc này cho thấy tiến thoái trong Lục Hào không phải một công thức đóng, mà là một lát cắt của cả hệ thống luận đoán gồm hào động, hào biến, nhật nguyệt, sinh khắc, không vong, nguyệt phá và cả câu hỏi cụ thể.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Khi học tiến thoái thần, nên bắt đầu bằng việc nhớ đúng bảy cặp tiến và bảy cặp thoái, vì đây là phần cố định, dễ kiểm tra. Sau đó mới luyện cách đặt tiến thoái vào bối cảnh: câu hỏi đang mong điều gì, hào nào là dụng thần, hào nào là kỵ thần, ngày tháng đang phò bên nào. Người mới học thường thấy tiến thần thì mừng, thấy thoái thần thì lo, nhưng chính sách Tăng san bốc dịch cũng cảnh báo rằng tiến thoái phải đọc theo câu hỏi, chứ không tự nó mang nghĩa tốt xấu.

Một điều nữa nên nhớ là tiến thoái thần chỉ là một quy ước của môn Lục Hào, không phải một quy luật tự nhiên. Nó có giá trị trong nội bộ hệ thống, giúp người học có thêm một tiêu chí để đọc chiều vận động của hào. Ngoài hệ thống ấy, không có cơ sở nào để khẳng định tiến thần hay thoái thần phản ánh điều gì về thế giới thực.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiến thần và thoái thần trong Lục Hào khác nhau ở điểm nào?

Cả hai đều là hào động biến ra hào cùng hành với nó. Nếu chi của hào biến đi theo chiều tăng của chuỗi 12 chi thì gọi là tiến thần, ví dụ Hợi hóa Tý. Nếu chi đi ngược lại thì gọi là thoái thần, ví dụ Tý hóa Hợi.

Có bao nhiêu cặp tiến thần và thoái thần trong Lục Hào?

Sách Tăng san bốc dịch liệt kê bảy cặp tiến và bảy cặp thoái. Hành Thổ có ba cặp tiến và ba cặp thoái, các hành Thủy, Mộc, Hỏa, Kim mỗi hành có một cặp.

Thấy tiến thần trong quẻ có luôn là điềm tốt không?

Không. Sách Tăng san bốc dịch cho rằng tiến thoái phải đặt vào câu hỏi cụ thể: cái mình mong thì nên tiến, cái mình sợ thì nên thoái. Ngoài ra còn phải xét ngày tháng, không vong, nguyệt phá và quan hệ sinh khắc giữa các hào.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Dã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Chương 29, Tiến thần thoái thần進神退神者﹐爻之動而化也﹐化進化退﹐吉凶禍福有喜忌之分
#LụcHào#TiếnThần#ThoáiThần#TăngSanBốcDịch#KinhDịch#BốcPhệ#HàoĐộng