
TL;DR: Tiểu Thử (小暑) là tiết thứ 11 trong 24 tiết khí, bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 105 độ. Theo giờ Việt Nam, tiết thường bắt đầu ngày 7 tháng 7 dương lịch, có năm ngày 6 hoặc 8; năm 2026 tiết giao lúc 8 giờ 49 ngày 7 tháng 7, năm 2027 lúc 14 giờ 34 ngày 7 tháng 7. Đây là tiết mở đầu tháng Mùi, nên trụ tháng trong Bát Tự đổi từ giờ giao tiết. Người Việt không có lễ riêng cho tiết này; Tuế thời quảng ký chỉ chép lời lịch pháp và ba hậu của nó.
Tiết Tiểu Thử là gì?
Tiểu Thử là tiết thứ 11 trong 24 tiết khí của lịch Đông phương, đứng ngay sau tiết Hạ Chí và trước tiết Đại Thử. Tên tiết gồm hai chữ Hán: 小 (tiểu, nhỏ) và 暑 (thử, nóng), nghĩa đen là "nóng nhẹ". Theo cách lý giải cổ điển, tiết này đánh dấu giai đoạn nắng nóng bắt đầu rõ rệt nhưng chưa tới mức gay gắt nhất, nên mới gọi là "tiểu" để phân biệt với "đại" ở tiết sau.
Cần phân biệt rõ: Tiểu Thử là một trong 24 tiết khí theo lịch Mặt Trời, không phải một ngày âm lịch cố định. Vì vậy mỗi năm tiết này rơi vào một ngày dương lịch khác nhau, thường trong khoảng mùng 6 tới mùng 8 tháng 7, tùy theo Mặt Trời tới kinh độ 105 độ vào thời điểm nào.
Về mặt lịch pháp, tiết Tiểu Thử bắt đầu lúc Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 105 độ. Đây là tiết mở đầu tháng Mùi, tức tháng Sáu tính theo tiết; Đại Thử theo sau là trung khí của tháng ấy.
Cơ chế lịch pháp: vì sao Tiểu Thử không cố định một ngày?
Hệ 24 tiết khí chia đường hoàng đạo thành 24 phần, mỗi phần 15 độ; Tiểu Thử ứng với điểm 105 độ. Năm dương lịch có 365 hoặc 366 ngày, còn Mặt Trời cần khoảng 365,24 ngày để trở lại cùng một kinh độ, nên giờ giao tiết lùi chừng 6 giờ mỗi năm rồi được kéo lại sau năm nhuận. Vì vậy ngày dương của Tiểu Thử xê dịch giữa ngày 6, 7 và 8 tháng 7.
Sách Mệnh lý tham nguyên ghi: "六月节小暑,六月中大暑", tức tiết đầu tháng Sáu là Tiểu Thử, khí giữa tháng Sáu là Đại Thử[1]. Sách nêu thắc mắc vì sao sau Hạ Chí trời đã nóng thịnh mà vẫn gọi là "tiểu", rồi đáp: "六月中大暑之极,故谓之大,然则未至于大,则犹为小也", nghĩa là giữa tháng Sáu nóng tới cực điểm nên gọi là đại, chưa tới mức ấy thì vẫn là tiểu[1]. Sách cũng dẫn: "五日谓之候,三候谓之气", tức năm ngày là một hậu, ba hậu là một khí, khoảng mười lăm ngày[1].
Trên thực tế các tiết dài ngắn không đều, vì Trái Đất đi trên quỹ đạo lúc nhanh lúc chậm. Tiểu Thử rơi vào quãng Trái Đất ở gần điểm xa Mặt Trời nhất và đi chậm, nên kéo dài chừng 15 ngày 17 giờ.
Tiết Tiểu Thử bắt đầu ngày nào trong năm nay và các năm tới?
Theo giờ Việt Nam, tiết Tiểu Thử thường bắt đầu ngày 7 tháng 7 dương lịch: từ năm 1900 tới 2100 có 117 năm rơi vào ngày 7. Có 39 năm rơi vào ngày 8, đều trước năm 1980; từ năm 2012 có 45 năm rơi vào ngày 6, như 2024 và 2028. Tiết kéo dài tới khi Đại Thử bắt đầu, thường vào ngày 22 hoặc 23 tháng 7.
Mốc giao tiết Tiểu Thử những năm tới, theo giờ Việt Nam (UTC+7):
| Năm | Ngày dương lịch | Giờ giao tiết | Ngày âm lịch |
|---|---|---|---|
| 2025 | 7 tháng 7 | 3 giờ 03 | 13 tháng Sáu |
| 2026 | 7 tháng 7 | 8 giờ 49 | 23 tháng Năm |
| 2027 | 7 tháng 7 | 14 giờ 34 | 4 tháng Sáu |
| 2028 | 6 tháng 7 | 20 giờ 21 | 14 tháng Năm nhuận |
| 2029 | 7 tháng 7 | 2 giờ 08 | 26 tháng Năm |
| 2030 | 7 tháng 7 | 7 giờ 57 | 7 tháng Sáu |
Tiểu Thử có phải là ngày nóng nhất trong năm không?
Không. Theo cách đặt tên trong sách cổ, Tiểu Thử là lúc nóng đã rõ nhưng chưa tới cực điểm, còn cực điểm là Đại Thử, bắt đầu ngày 22 hoặc 23 tháng 7. Ngày nóng nhất thực tế ở mỗi nơi tùy khí hậu từng vùng và từng năm, không trùng với một tiết cố định.
Tiết Tiểu Thử có tục lệ gì?
Người Việt không có lễ riêng cho tiết Tiểu Thử. Tiết này thường chỉ được biết qua lịch in và trong các môn thuật số như Tử Bình, Kỳ Môn Độn Giáp.
Tuế thời quảng ký chép gì về Tiểu Thử?
Tuế thời quảng ký (歲時廣記) của Trần Nguyên Tịnh đời Nam Tống, bản Tứ khố toàn thư bốn quyển, xếp ghi chép theo bốn mùa và lấy Nguyệt lệnh, Hiếu kinh vĩ, Tam thống lịch làm cương[3]. Ở mục tháng cuối hạ (季夏月), sách chép về Tiểu Thử lời lịch pháp và ba hậu, không chép lễ tục riêng. Sách dẫn Hiếu kinh vĩ: "夏至後十五日斗指丁為小暑", tức mười lăm ngày sau Hạ Chí, khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ phương Đinh, là Tiểu Thử[3]. Sách dẫn Tam thống lịch: "小暑為六月節,大暑為六月中氣。小暑大暑者,就極熱之中分為小大,月初為小,月半為大", tức Tiểu Thử là tiết của tháng Sáu, Đại Thử là trung khí; trong quãng nóng nhất chia ra tiểu và đại, đầu tháng là tiểu, giữa tháng là đại[3].
Sách dẫn Chu thư Thời huấn về ba hậu: "小暑之日溫風至,後五日蟋蟀居壁,後五日鷹乃學習", nghĩa là ngày Tiểu Thử gió ấm tới, năm ngày sau dế vào trú trong vách, năm ngày nữa chim ưng con tập bay[3].
Ở mục tháng giữa hạ (仲夏月), sách chép lời Nguyệt lệnh "小暑至,螳螂生", nghĩa là hơi nóng nhẹ tới, bọ ngựa nở[3]. Chữ 小暑 ở câu này chỉ hơi nóng của tháng Năm, không phải tiết Tiểu Thử.
So sánh Tiểu Thử với các tiết khí lân cận
| Tiết khí | Loại | Kinh độ Mặt Trời | Ngày bắt đầu thường gặp | Đặc điểm chính |
|---|---|---|---|---|
| Mang Chủng | Tiết, mở đầu tháng Ngọ | 75 độ | 5 hoặc 6 tháng 6 (có năm 4 hoặc 7) | Tên gọi chỉ lúa, lúa mì có râu |
| Hạ Chí | Trung khí tháng Ngọ | 90 độ | 21 hoặc 22 tháng 6 (có năm 20) | Ngày dài nhất năm ở Bắc Bán Cầu |
| Tiểu Thử | Tiết, mở đầu tháng Mùi | 105 độ | 7 tháng 7 (có năm 6 hoặc 8) | Nóng đã rõ nhưng chưa cực điểm |
| Đại Thử | Trung khí tháng Mùi | 120 độ | 22 hoặc 23 tháng 7 (có năm 24) | Nóng cực điểm, theo tên gọi |
| Lập Thu | Tiết, mở đầu tháng Thân | 135 độ | 7 hoặc 8 tháng 8 (có năm 6 hoặc 9) | Bắt đầu mùa thu theo lịch tiết khí |
Tiểu Thử trong các môn thuật số Đông phương
Trong Tử Bình và Bát Tự
Trong Tử Bình, trụ tháng của lá số Bát Tự đổi ở 12 tiết, không đổi ở trung khí hay ở ngày mùng một âm lịch. Tiểu Thử mở đầu tháng Mùi: người sinh từ giờ giao Mang Chủng tới trước giờ giao Tiểu Thử mang trụ tháng Ngọ, sinh từ giờ giao Tiểu Thử tới trước giờ giao Lập Thu mang trụ tháng Mùi. Năm 2026, Tiểu Thử giao lúc 8 giờ 49 ngày 7 tháng 7, nhằm ngày 23 tháng Năm âm lịch, nên người sinh sau giờ ấy dù còn trong tháng Năm âm vẫn mang trụ tháng Ất Mùi. Năm 2025, tiết giao ngày 13 tháng Sáu âm lịch, nên người sinh từ mùng 1 tháng ấy tới trước giờ giao vẫn mang trụ tháng Nhâm Ngọ. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy, khi bàn về tiết khí, cũng nêu cách tính của nhà số mệnh: người sinh sau khi giao tiết Lập Hạ trong tháng Ba âm thì "必作四月算命", tức phải tính là tháng Tư[4].
Trong Kỳ Môn Độn Giáp
Sách Thuật số Lạc Thư chia 24 tiết thành hai nửa, từ Đông Chí tới Mang Chủng và từ Hạ Chí tới Đại Tuyết, rồi xếp mỗi ba tiết vào một quẻ hậu thiên: Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử hợp vào quẻ Ly ở cung số 9; mỗi quẻ ba hào, mỗi hào ứng với một tiết[2]. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy lấy tiết khí làm mốc đổi cục: mỗi tiết mười lăm ngày chia ba nguyên thượng, trung, hạ, mỗi nguyên năm ngày; "如节气未到甲子、己卯、甲午、己酉符头先到,谓之超神", tức tiết chưa tới mà ngày phù đầu Giáp Tý, Kỷ Mão, Giáp Ngọ, Kỷ Dậu đã tới trước thì gọi là siêu thần[4].
Trong phong thủy
Sách Sử dụng la bàn của Thanh Thủy (2006), ở chương giảng các vòng của la bàn Tam Hợp, có bảng 24 sơn phối 24 tiết khí: theo bàn Thái dương đáo sơn, tiết Tiểu Thử Mặt Trời tới sơn Đinh, và sách dùng các bàn đáo sơn ấy khi chọn ngày mai táng, lập bia[5].
Tiểu Thử có ảnh hưởng gì tới sức khỏe?
Trong quan niệm dân gian, Tiểu Thử là lúc trời chuyển nóng ẩm, dễ cảm nắng và rối loạn tiêu hóa, nên người ta thường dặn nhau ăn nhẹ, uống đủ nước, tránh ra nắng giữa trưa. Đây là kinh nghiệm sinh hoạt mùa hè, không phải chỉ dẫn y tế.
