
TL;DR: Toán số trong Thái Ất là cách đếm số của chủ và khách để so sánh lực thế giữa hai bên. Chủ toán là số thuộc về chủ, khách toán là số thuộc về khách; hòa hay không hòa xét ở chỗ con số ấy chẵn hay lẻ so với ngôi âm hay dương của cung, không phải ở chỗ hai số bằng nhau. Trường toán là số từ 11 trở lên, đoản toán là số từ 9 trở xuống; sách cho trường thì nên hoãn và lợi vào sâu, đoản thì nên gấp và chỉ lợi vào nông.
Toán số trong Thái Ất là gì?
Toán số trong Thái Ất là hệ đếm dùng để so sánh thế lực giữa hai bên trong một cục Thái Ất. Mỗi bên có một con số riêng, gọi là toán. Toán của bên chủ gọi là chủ toán, toán của bên khách gọi là khách toán. Sách còn xét mỗi toán là số lẻ (dương) hay số chẵn (âm) so với ngôi âm dương của cung để gọi là hòa hay không hòa. Sách Thái Ất kim kính thức kinh của Vương Hy Minh đời Đường[1] dành hẳn một thiên bàn về cách tính và cách luận các toán này.
Cần phân biệt toán với các yếu tố khác trong cùng một cục. Thái Ất còn có cung của Thái Ất, có mắt, có các thần, có tám cửa. Toán chỉ là con số gắn với chủ hoặc khách, dùng để so sánh, không thay thế cho việc xem cung và xem thần. Trong thực hành, người lập cục thường đọc toán trước để biết thế hai bên, rồi mới đọc các yếu tố còn lại để biết chi tiết.
Chủ toán và khách toán được tính như thế nào?
Chủ toán là số đếm của bên chủ, khách toán là số đếm của bên khách. Cách đếm dựa trên vị trí của mắt chủ và mắt khách trên vòng mười sáu thần, rồi cộng trừ theo quy tắc riêng của từng cục. Sách Thái Ất kim kính thức kinh ghi rõ các bước an mắt chủ, an mắt khách, rồi từ đó suy ra toán[1].
Từ chủ toán sách suy ra cung của chủ đại tướng và chủ tham tướng, từ khách toán suy ra cung của khách đại tướng và khách tham tướng. Ví dụ một cục trong quyển 6: chủ toán 14 thì đại tướng ở cung 4, tham tướng ở cung 2; khách toán 9 thì đại tướng ở cung 9, tham tướng ở cung 7. Mục "suy nhiều ít để chiêm thắng phụ" chép: khách đem toán nhiều tới chỗ toán ít thì chủ bại, khách đem toán ít tới chỗ toán nhiều thì chủ thắng[1].
Hòa và không hòa khác nhau ở điểm nào?
Hòa và không hòa trong sách là chuyện âm dương của con toán, không phải chuyện chủ toán bằng hay lệch khách toán. Mục "suy âm dương hòa bất hòa" ở quyển 2 dẫn Trương Lương kinh: đem toán phối với ngôi của Thái Ất và hai mắt; ở ngôi dương mà toán lẻ là trùng dương, ở ngôi âm mà toán chẵn là trùng âm, đều là không hòa; ở ngôi dương mà toán chẵn, ở ngôi âm mà toán lẻ là âm dương hòa, "hòa thì cát". Sách kê luôn các số: 14, 18, 33 là thượng hòa; 23, 29, 32 là thứ hòa; 12, 16, 27, 34, 38 là hạ hòa[1].
Sách dùng cặp khái niệm này như một điều kiện để cân nhắc. Mục "suy chủ khách" ở quyển 4 chép: ba cửa đủ, năm tướng phát, âm dương hòa thì việc cử binh thuận; ba cửa không đủ, năm tướng không phát, âm dương không hòa thì không lợi cử binh, nên cố thủ[1]. Đây là lời của một sách binh chiêm đời Đường, không phải căn cứ để đoán việc ngày nay.
Trường toán và đoản toán là gì?
Trường toán là số dài, đoản toán là số ngắn. Sách Thái Ất kim kính thức kinh ghi: thiên mục sở toán, chủ dĩ trường toán nghi hoãn, đoản toán nghi cấp; thập nhất dĩ thượng vi trường, đơn cửu dĩ hạ vi đoản; trường đa lợi thâm nhập, đoản thiểu lợi thiển nhập; trường vi thắng, đoản vi phụ[1]. Nghĩa là: toán từ 11 trở lên gọi là trường, từ 9 trở xuống gọi là đoản. Trường thì nên đánh chậm, đoản thì nên đánh nhanh. Trường nhiều thì lợi cho việc tiến sâu, đoản ít thì chỉ lợi cho việc tiến nông. Sách coi trường là thắng, đoản là thua.
Con số 10 không nằm trong cả hai nhóm theo cách ghi trên. Sách xếp nó theo một phép xét khác ở ngay mục trước, mục tam tài: toán được 10, 20, 30, 40 gọi là "vô nhân"; toán từ 1 tới 9, tức không có hàng chục, gọi là "vô thiên"; toán có hàng đơn vị từ 1 tới 4 gọi là "vô địa"[1].
Bảng đối chiếu các khái niệm chính
| Khái niệm | Định nghĩa | Cách dùng trong luận cục |
|---|---|---|
| Chủ toán | Số đếm của bên chủ | So sánh với khách toán để biết thế mạnh yếu |
| Khách toán | Số đếm của bên khách | So sánh với chủ toán để biết thế mạnh yếu |
| Hòa | Ngôi dương được toán chẵn, ngôi âm được toán lẻ | Sách ghi "hòa thì cát" |
| Không hòa | Ngôi dương được toán lẻ (trùng dương), ngôi âm được toán chẵn (trùng âm) | Sách ghi không lợi cử binh, nên cố thủ |
| Trường toán | Từ 11 trở lên | Nên đánh chậm, lợi tiến sâu, là thắng |
| Đoản toán | Từ 9 trở xuống | Nên đánh nhanh, chỉ lợi tiến nông, là thua |
Vì sao phải xem cả toán lẫn cung và thần?
Toán chỉ là một lớp thông tin. Muốn luận đầy đủ, phải xem thêm cung của Thái Ất, xem mắt chủ và mắt khách đóng ở đâu, xem các thần phụ, xem tám cửa. Sách Thái Ất kim kính thức kinh có thiên bàn về tám cửa và ngũ tướng, trong đó nói rõ: chủ khách hai trận tương đương, thừa sinh khí thì thắng, thừa tử khí thì bại[1]. Như vậy, toán lớn chưa chắc đã thắng nếu rơi vào tử khí, và toán nhỏ chưa chắc đã bại nếu rơi vào sinh khí.
Sách cũng ghi cách xem ngũ tướng theo mùa: mùa xuân thì mộc vượng, mùa hạ thì hỏa vượng, mùa thu thì kim vượng, mùa đông thì thủy vượng, bốn mùa thì thổ vượng. Tướng nào gặp mùa vượng của mình thì được sinh khí, gặp mùa khắc mình thì rơi vào tử khí. Đây là lớp thứ hai để đánh giá sau khi đã xem toán[1].
Các trường hợp cụ thể trong sách
Sách Thái Ất kim kính thức kinh có nhiều ví dụ cục cụ thể. Quyển 6 có cục thứ 28 của nguyên Giáp Tý, ngày Tân Mão: Thái Ất ở cung hai, Lữ Thân là thiên mục (mắt chủ), chủ toán 14, đại tướng 4, tham tướng 2; Hợi là kế thần, Thủy Kích ở Đại Quýnh, khách toán 9, đại tướng 9, tham tướng 7. Chiếu theo các mục trên thì chủ toán 14 là trường toán và thuộc nhóm thượng hòa, khách toán 9 là đoản toán. Nhưng ở cục này sách không luận bằng con toán mà xét cung của khách đại tướng: cung 9 thuộc mộc gặp thần thuộc kim, sách gọi là khách đại tướng "thừa tử khí"[1].
Đối chiếu với các hệ khác trong Tam Thức
Trong Tam Thức, Thái Ất thiên về toán số và thế trận, Kỳ Môn thiên về cửa và sao, Lục Nhâm thiên về khóa và truyền. Cách đếm toán của Thái Ất không dùng chung với cách lập khóa của Lục Nhâm hay cách an cửa của Kỳ Môn, nhưng cả ba hệ đều dùng chung một số khái niệm nền như âm dương, ngũ hành, can chi.
Điểm khác biệt chính là Thái Ất có hệ toán số riêng, dùng để so sánh hai bên. Kỳ Môn không có hệ toán số tương đương, mà dùng cửa và sao để đánh giá. Lục Nhâm dùng khóa và truyền để đánh giá. Vì vậy, khi đọc một cục Thái Ất, không nên áp cách đọc của Kỳ Môn hay Lục Nhâm vào, mà phải theo đúng quy tắc của Thái Ất.
Những điểm cần lưu ý khi đọc toán số
Thứ nhất, toán số là quy ước của sách, không phải số đo thiên văn. Lời đề yếu của bản Tứ khố còn ghi sách có phần người đời sau thêm vào (có chỗ tính tích niên tới năm Cảnh Hựu nguyên niên đời Tống), không còn nguyên là bản của Vương Hy Minh. Đây là lý do bài này ghi rõ đang theo bản Tứ khố của Thái Ất kim kính thức kinh[1].
Thứ hai, toán số không tự nó khẳng định thắng bại. Sách Thái Ất kim kính thức kinh nhiều lần nhắc phải xem thêm cung, thần, mùa, cửa. Một mình toán không đủ để kết luận.
Thứ ba, các con số trong sách là ví dụ của người xưa, không phải số liệu thống kê. Không nên lấy các ví dụ ấy để suy ra quy luật cố định cho mọi cục.
Gợi ý của Nhật Nguyệt:
Nếu bạn đọc Thái Ất như một hệ tri thức cổ, hãy xem toán số là một lớp thông tin trong nhiều lớp. Đừng dùng toán số để quyết định việc thật trong đời sống, công việc hay tài chính. Cách tiếp cận hợp lý là đọc sách gốc, đối chiếu các bản chú giải, và ghi rõ mình đang theo bản nào.
