Tới nội dung

Từ điển thuật ngữ

Phù Ức là gì?

Phù Ức là nguyên tắc cân bằng trong Bát Tự: dùng thần sinh trợ khi Nhật chủ nhược, dùng thần khắc chế hoặc tiết giảm khi Nhật chủ vượng, nhằm đưa lá số về trung hòa. Trích Thiên Tủy nêu nguyên tắc này bằng câu "phù chi ức chi đắc kỳ nghi" (nâng hay nén phải đúng chỗ), bên cạnh các thiên riêng về thông quan, hàn noãn (điều hậu) và thuận thế. Cần nhớ sinh chưa chắc tốt và khắc chưa chắc xấu: hành sinh cho Nhật chủ vốn đã vượng lại thành Kỵ thần. Với Tòng cách và Hóa khí cách, Phù Ức không áp dụng, phải thuận theo thế vượng chứ không ức.

Cách gọi khác: phù ức dụng thần · phép phù ức · 扶抑

Bát Tự

Phù Ức là gì?

Phù Ức là một nguyên tắc cốt lõi trong luận mệnh Bát Tự, xoay quanh việc điều chỉnh sự mạnh yếu của Nhật chủ (can ngày sinh). Khi Nhật chủ nhược, cần dùng thần sinh trợ hoặc cùng hành để nâng đỡ, gọi là phù. Khi Nhật chủ vượng, cần dùng thần khắc chế hoặc tiết giảm để cân bằng, gọi là ức. Mục tiêu là đưa lá số về trung hòa: nguyên chú thiên Trung hòa của Trích Thiên Tủy gọi "vừa trung vừa hòa" (中而且和) là yếu pháp của Tử Bình, và cũng ghi có lá số không trung hòa mà vẫn phú quý.

Nguồn gốc và vai trò của Phù Ức là gì?

Phù Ức gắn liền với triết lý âm dương ngũ hành, nơi mọi sự vật đều cần cân bằng. Trong Bát Tự, nó giúp xác định Dụng thần, tức hành hoặc thần mang lại lợi ích cho Nhật chủ. Phép phù ức thường được dùng song song với các phương pháp khác như điều hậu (điều chỉnh khí hậu) và thông quan (kết nối các hành xung đột).

Trích Thiên Tủy bàn riêng từng hướng chọn Dụng thần: phù ức ở thiên Thể dụng và Suy vượng, thông quan ở thiên Thông cách, điều hòa lạnh ấm ở thiên Hàn noãn, thuận thế ở thiên Thuận nghịch và Tòng hóa; sách không gom các hướng ấy thành một danh sách năm phép, và cũng không có tên ghép "phù ức" (扶抑) hay "điều hậu" (調候): trong sách chỉ có cụm "phù chi ức chi" (扶之抑之) và chữ "hàn noãn" (寒暖). Nguyên chú thiên Suy vượng viết: vượng thì nên tiết, nên thương; suy thì mừng được giúp, được trợ, đó là lý của Tử Bình (旺則宜洩宜傷,衰則喜幫喜助,子平之理也).

Cách dùng phù ức trong luận mệnh như thế nào?

Đầu tiên, xác định Nhật chủ vượng hay nhược dựa trên số lượng và chất lượng các can chi tương tác. Nếu nhược, ưu tiên chọn Ấn (sinh) hoặc Tỷ Kiếp (trợ) làm Dụng thần. Nếu vượng, ưu tiên chọn Quan Sát (khắc), Thực Thương (tiết) hoặc Tài (hao) để ức chế. Tuy nhiên, Nhậm Thiết Tiều lưu ý vượng tới cực mà còn ức thì bị phản kích, suy tới cực mà còn phù thì uổng công, nên mấu chốt nằm ở chữ "đắc kỳ nghi". Do đó, phải kết hợp với các yếu tố khác như mùa sinh, thế đất, và sự hiện diện của các thần.

Nguyên chú thiên Thể dụng của Trích Thiên Tủy nêu quy tắc nền tảng: nếu thân vượng, ưu tiên khắc, tiết, hao, tức Quan Sát, Tài, Thực Thương; còn khi thân nhược, chọn sinh trợ, tức Ấn và Tỷ Kiếp. Ở thiên Thông quan, Nhậm Thiết Tiều viết Sát nặng thì mừng có Ấn: Ấn hóa Sát mà sinh thân; nguyên cục không có Ấn thì phải chờ vận gặp Ấn.

Ví dụ: thân Kim vượng lại có Thổ Ấn vượng thì lấy Thủy là Thực Thương để tiết bớt, đúng câu nguyên chú "Ấn, Tỷ ở đề cương quá vượng thì lấy Thực Thương, Tài, Quan làm hỉ thần".

Sinh chưa chắc là tốt, khắc chưa chắc là xấu

Đây là điểm dễ hiểu sai nhất khi mới học Phù Ức. Hành sinh cho Nhật chủ không đương nhiên là tốt: nếu Nhật chủ vốn đã vượng, hành sinh cho nó lại trở thành Kỵ thần, càng nuôi thêm cái đã dư. Ngược lại, hành khắc chế không đương nhiên là xấu: với thân vượng, chính hành khắc chế mới là thứ kéo lá số về trung hòa.

Theo nguyên chú thiên Thể dụng, Ấn và Tỷ Kiếp là hỉ thần khi thân nhược; còn khi Ấn, Tỷ ở đề cương đã quá vượng thì hỉ thần là Thực Thương, Tài, Quan, tức Ấn và Tỷ Kiếp thành thứ không nên thêm. Ở chiều ngược lại, có ví dụ: khi thân Mộc yếu, cần Thủy sinh trợ nên Thủy vốn là Dụng thần; song nếu Thủy trợ giúp vượt mức, tức Ấn Tinh quá nhiều, thì cần Thổ để chế ngự Thủy, tức khắc chính hành đang sinh cho mình, thoạt nghe có vẻ nghịch lý mà thực ra lại hợp lý. Trích Thiên Tủy gọi thế này là "quân lại thần sinh" (君賴臣生); Nhậm Thiết Tiều giải là Ấn quá vượng, phải dùng Tài phá Ấn, và xếp vào loại phản cục.

Tòng cách và Hóa khí cách: chỗ Phù Ức không áp dụng

Ngoài chính cách còn có các biến cách, tiêu biểu là Tòng cách và Hóa khí cách, mà Trích Thiên Tủy bàn chung trong thiên Tòng hóa. Riêng Tòng vượng (tứ trụ toàn Tỷ Kiếp, có Ấn sinh, không có Quan Sát chế) là loại Nhậm Thiết Tiều tự thêm, ông ghi rõ các sách trước chưa chép. Trường hợp Tòng Cách diễn ra khi Nhật Chủ suy yếu hoàn toàn, trong địa chi không còn chút gốc rễ nào đủ vững, đồng thời Ấn lẫn Tỷ đều không thể trợ giúp, khiến toàn bộ sức mạnh của lá số tập trung vào một hoặc vài hành vượng; lúc này Nhật Chủ chỉ còn cách thuận theo dòng vượng khí ấy mới mong tồn tại và phát triển. Vì vậy, nguyên tắc lấy Dụng thần đổi hẳn: thay vì tìm thần giúp đỡ Nhật chủ, phải tìm thần đại diện cho chính hành mà Nhật chủ đi theo. Tòng Tài cách lấy Tài tinh làm Dụng thần, Tòng Sát cách lấy Quan Sát, Tòng Nhi cách (Tòng Thực Thương cách) lấy Thực Thần và Thương Quan.

Nguyên chú thiên Thuận nghịch của Trích Thiên Tủy viết thế đã thành thì "có thể thuận mà không thể nghịch" (其勢已成,可順而不可逆). Trích Thiên Tủy phân biệt tòng thật và tòng giả: nhật chủ không còn chút sinh phù nào mà tài quan cực mạnh mới là tòng thật ("tòng được thật thì chỉ luận tòng"); trong cục còn chỗ giúp nhật chủ thì là tòng giả, vận thuận vẫn có thể phát nhưng khó tránh họa.

Phân biệt Phù Ức với các thuật ngữ dễ nhầm ra sao?

Phù Ức khác với Điều Hậu. Điều Hậu tập trung vào việc cân bằng nhiệt độ (hàn, nhiệt) của lá số, trong khi Phù Ức chú trọng vào sự mạnh yếu tổng thể của Nhật chủ. Phù Ức cũng khác với Thông Quan, vốn giải quyết xung đột giữa các hành bằng cách đưa ra cầu nối, không nhất thiết dựa trên thân vượng nhược. Ngoài ra, Phù Ức không đồng nhất với Bệnh Dược, nơi tập trung vào việc tìm ra "bệnh" của lá số và "thuốc" tương ứng.

Cần lưu ý gì khi áp dụng Phù Ức?

Phù Ức là tri thức truyền thống mang tính tham khảo, chưa được khoa học kiểm chứng. Việc luận đoán cần dựa trên toàn bộ lá số và kinh nghiệm, không nên máy móc chỉ dùng một phép. Người học nên tham khảo nhiều nguồn và thực hành cẩn trọng.

Các trường phái hiểu khác nhau thế nào?

Các sách không thống nhất về thứ tự ưu tiên giữa phù ức và điều hậu. Trích Thiên Tủy lấy "phù chi ức chi" làm trục của thiên Thể dụng nhưng vẫn dành thiên Hàn noãn cho khí lạnh ấm; Nhậm Thiết Tiều nhấn chữ "đắc kỳ nghi", tức phù hay ức tùy từng lá số.

Bài viết liên quan

Trong bài này9 mục

Câu hỏi thường gặp

Phù Ức có phải là cách duy nhất để chọn Dụng thần không?

Không. Phù Ức là một trong nhiều phương pháp, thường dùng cùng với Điều Hậu, Thông Quan, Bệnh Dược. Tùy lá số mà phương pháp nào được ưu tiên.

Làm sao biết Nhật chủ vượng hay nhược?

Dựa trên lệnh tháng và gốc rễ trong tứ trụ: được sinh trợ nhiều thì vượng, bị khắc tiết nhiều thì nhược. Nhậm Thiết Tiều lưu ý không thể chỉ nhìn lệnh tháng: can ngày dù thất lệnh mà tứ trụ có gốc vẫn chịu được tài quan.

Phù Ức có mâu thuẫn với Điều Hậu không?

Có thể mâu thuẫn trong một số lá số, khi thần cần để phù ức lại không phù hợp với điều hậu. Khi đó cần cân nhắc kỹ lưỡng, có thể chọn thần vừa phù ức vừa điều hậu.

Phù Ức có được khoa học chứng minh không?

Không. Đây là tri thức truyền thống mang tính tham khảo, chưa được khoa học kiểm chứng. Người dùng nên thận trọng và không nên xem là chân lý tuyệt đối.

Nguồn tham khảo

  1. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Thể dụng luận (體用論), Thể dụng luận, câu gốc và nguyên chú道有體用,不可以一端論也,要在扶之抑之得其宜。
  2. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Suy vượng luận (衰旺論), Suy vượng luận, nguyên chú旺則宜洩宜傷,衰則喜幫喜助,子平之理也
  3. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Trung hòa luận (中和論), Trung hòa luận, nguyên chú中而且和,子平之要法
  4. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Tòng hóa luận, phần chân (從化論-真), Tòng hóa luận (chân), câu gốc và nguyên chú從得真者只論從,從神又有吉和凶。
  5. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Tòng hóa luận, phần giả (從化論-假), Tòng hóa luận (giả), nguyên chú日主弱矣,財官強矣,不能不從,中有所助者,便假
  6. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Thuận nghịch luận (順逆論), Thuận nghịch luận, nguyên chú其勢已成,可順而不可逆也
  7. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Hàn noãn luận (寒暖論), Hàn noãn luận, câu gốc天道有寒暖,發育萬物,人道得之,不可過也。
  8. Trích Thiên Tủy (滴天髓, tương truyền Lưu Cơ chú; bản Trích Thiên Tủy tập yếu 輯要 do Trần Chi Lân đời Thanh tập), bản chữ Hán trên Wikisource, Thông cách luận (通隔論), Thông cách luận, câu gốc và nguyên chú兩意本相通,中間有關隔,此關若通也,到處歡相得。
  9. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Thông thần luận, mục 13 Thể dụng, lời Nhậm thị, Thông thần luận, mục 13 Thể dụng (体用)旺则抑之,弱则扶之,虽不易之法,然有不易中之变易者,惟在审察“得其宜”三字而己矣。
  10. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Thông thần luận, mục 17 Suy vượng, lời Nhậm thị, Thông thần luận, mục 17 Suy vượng (衰旺)得时俱为旺论,失令便作衰看,虽是至理,亦死法也。
  11. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Thông thần luận, mục 20 Thông quan, lời Nhậm thị, Thông thần luận, mục 20 Thông quan (通关)若杀重喜印,杀露印亦露
  12. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Lục thân luận, mục 12 Tòng tượng, lời Nhậm thị, Lục thân luận, mục 12 Tòng tượng (从象)尚有从旺、从强、从气、从势之理,比从财官更难推算,尤当审察,此四从,诸书所未载,余之立说
  13. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Lục thân luận, mục 17 Phản cục, câu 'Quân lại thần sinh' (君賴臣生), nguyên chú và lời Nhậm thị, Lục thân luận, mục 17 Phản cục (反局)君赖臣生者,印绶太旺之意也
  14. Nhậm Thiết Tiều (任鐵樵, đời Thanh), Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), bản chữ Hán trên Wikisource, Thông thần luận, mục 18 Trung hòa, lời Nhậm thị, Thông thần luận, mục 18 Trung hòa (中和)若所谓“有病有药,吉凶易验,无病地药,祸福难推”,此论仍乃失之偏。

Đọc tiếp

Dụng thần, hỉ thần, kỵ thần · Phù ức

Bát Tự
Từ điển

Thông Quan là gì?

Bản đồ sao cổ khắc trên bia đá Tô Châu, thể hiện các chòm sao quanh thiên cực Bắc.
Bát Tự

Dụng Thần trong Bát Tự (Tứ Trụ) là gì?

Bát Tự quang minh là gì và ứng dụng trong luận mệnh?
Bát Tự

Bát Tự quang minh là gì và ứng dụng trong luận mệnh?

Bài viết liên quan

Phong tục tiếng Anh là gì? Từ vựng về phong tục Việt
Từ điển

Phong tục tiếng Anh là gì? Từ vựng về phong tục Việt

Chữ Minh 明 trong chữ Hán và triết lý âm dương nhật nguyệt
Từ điển

Chữ Minh 明 trong chữ Hán và triết lý âm dương nhật nguyệt

Bát Tự
Từ điển

Bệnh Dược là gì?

Bát Tự
Từ điển

Điều Hậu là gì?

Trích dẫn trang này

Nguồn: Nhật Nguyệt - https://nhatnguyet.org/tu-dien/phu-uc