
TL;DR: Vòng Trường Sinh là chu kỳ 12 giai đoạn (từ Trường Sinh - sinh ra đến Dưỡng - thai nghén lại) mô phỏng vòng đời con người, dùng để đánh giá mức độ vượng suy của mỗi Thiên Can khi gặp từng Địa Chi trong lá số Bát Tự. Can dương đi thuận, can âm đi nghịch theo Uyên Hải Tử Bình và Tử Bình Chân Thuyên; riêng phái Từ Nhạc Ngô và Nhâm Thiết Tiều chủ trương âm dương đồng sinh đồng tử nên Ất cũng sinh ở Hợi và đi thuận như Giáp. Công dụng chính là đo thông căn, không phải để gán cát hung máy móc theo từng giai đoạn.
Vòng Trường Sinh trong Bát Tự là hỷ hay kỵ khi thân vượng, thân nhược?
Vòng Trường Sinh chỉ là thước đo phụ cho vượng suy, nên nó không tự thành hỷ hay kỵ. Khi thân vượng, giai đoạn Trường Sinh của Nhật Chủ tại các chi càng làm thân thêm vượng, lúc đó nó thành kỵ nếu nguyệt lệnh và cách cục đã nghiêng về phù ức theo hướng ức chế. Khi thân nhược, giai đoạn ấy lại là điểm tựa, có thể thành hỷ nếu dụng thần cần sinh trợ. Nó chỉ trở thành dụng thần khi chính hành của giai đoạn đó là hành cần thiết để cân lại lá số, chẳng hạn qua thông quan, điều hậu hoặc bệnh dược. Với tòng cách, kết luận đảo ngược hoàn toàn. Muốn nắm đầy đủ, xem Dụng thần trong Bát Tự và Thân vượng, thân nhược.
Mười hai giai đoạn của vòng đời gồm những gì?
Vòng gồm 12 giai đoạn nối tiếp theo chu kỳ khép kín. Bảng dưới liệt kê tên Hán Việt, ý nghĩa, và mức năng lượng tương ứng.
| Thứ tự | Tên giai đoạn | Ý nghĩa | Mức năng lượng |
|---|---|---|---|
| 1 | Trường Sinh | Sinh ra, khởi sự mới, tiềm năng phát triển | vượng |
| 2 | Mộc Dục | Tắm gội, ấu thơ non nớt, dễ biến động, bồng bột | trung |
| 3 | Quan Đới | Đội mũ mặc đai, thiếu niên trưởng thành dần, định hình nhân cách | trung |
| 4 | Lâm Quan | Ra làm quan, trưởng thành, gánh vác trách nhiệm | vượng |
| 5 | Đế Vượng | Đỉnh cao vượng thịnh, mạnh nhất trong chu kỳ | vượng |
| 6 | Suy | Sau đỉnh cao đi xuống, nhuệ khí giảm dần | trung |
| 7 | Bệnh | Suy yếu rõ rệt, như tuổi già mang bệnh | suy |
| 8 | Tử | Khí đã tàn, hết năng lượng hoạt động | suy |
| 9 | Mộ | Nhập mộ, khí thu về, tàng ẩn, chưa tan biến hẳn | trung |
| 10 | Tuyệt | Điểm thấp nhất, khí cũ dứt để chuẩn bị vòng mới | suy |
| 11 | Thai | Mầm sống mới hình thành trong âm thầm | trung |
| 12 | Dưỡng | Thai nhi được nuôi dưỡng, tích lũy trước chu kỳ tiếp theo | trung |
Cần chú ý: cột "mức năng lượng" chỉ là quy ước ba mức để dễ đọc, không phải một thang đo liên tục. Việc gán vượng hay suy cho từng giai đoạn có chỗ các sách không hoàn toàn giống nhau, đặc biệt ở các giai đoạn giữa như Mộc Dục, Quan Đới, Mộ. Điều chắc chắn là hai đầu: Trường Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng thuộc nhóm vượng; Bệnh, Tử, Tuyệt thuộc nhóm suy.
Cách vận hành của vòng Trường Sinh như thế nào?
Mỗi Thiên Can trong Thập Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) có một Địa Chi khởi điểm Trường Sinh riêng. Từ điểm khởi ấy, vòng di chuyển thuận chiều theo 12 Địa Chi đối với can Dương, và nghịch chiều đối với can Âm.
Ví dụ Giáp (Dương Mộc) có Trường Sinh tại Hợi, rồi đi thuận: Tý là Mộc Dục, Sửu là Quan Đới, Dần là Lâm Quan, Mão là Đế Vượng (đúng bản vị của Mộc), Thìn là Suy, và tiếp tục cho đến khi khép vòng. Ngược lại Ất (Âm Mộc) theo Tử Bình Chân Thuyên (chương 3) và Uyên Hải Tử Bình khởi Trường Sinh tại Ngọ và đi nghịch: Tỵ là Mộc Dục, Thìn là Quan Đới, Mão là Lâm Quan, Dần là Đế Vượng; còn thuyết âm dương đồng sinh đồng tử thì cho Ất khởi cùng Giáp tại Hợi và đi thuận như Giáp.
Chính chiều đi trái ngược giữa can Dương và can Âm là điểm dễ nhầm nhất khi tra bảng. Khi muốn biết một can vượng hay suy tại một trụ cụ thể (Năm, Tháng, Ngày, Giờ), người luận đối chiếu can đó với Địa Chi của trụ tương ứng, rồi tra ra giai đoạn.
Bảng khởi Trường Sinh đủ mười can theo Uyên Hải Tử Bình
Theo mục Luận Thiên can sinh vượng tử tuyệt của Uyên Hải Tử Bình, can dương đi thuận và khởi Trường Sinh như sau: Giáp khởi Hợi, Bính và Mậu khởi Dần, Canh khởi Tị, Nhâm khởi Thân. Can âm đi nghịch và khởi Trường Sinh như sau: Ất khởi Ngọ, Đinh và Kỷ khởi Dậu, Tân khởi Tý, Quý khởi Mão.
Theo bảng này, Ất có Trường Sinh tại Ngọ, Mộc Dục tại Tị, Quan Đới tại Thìn, Lâm Quan tại Mão, Đế Vượng tại Dần, Tử tại Hợi. Đối chiếu: Tử Bình Chân Thuyên cũng cho Ất sinh ở Ngọ và đi nghịch, trùng với Uyên Hải ở đoạn này. Cách viết Ất khởi Trường Sinh tại Hợi rồi đi nghịch (Tuất Mộc Dục, Dậu Quan Đới, Thân Lâm Quan, Mùi Đế Vượng) không khớp với sách nào trong hai bộ vừa nêu, nên cần bỏ.
Vì sao can dương đi thuận còn can âm đi nghịch?
Tử Bình Chân Thuyên chương 3 giải thích: dương chủ tụ nên tiến, âm chủ tán nên lùi. Giáp là khí của cành lá, sinh ở Hợi và tử ở Ngọ vì tháng Ngọ bề ngoài cây cối sum xuê mà sinh khí bên trong đã phát tiết hết. Ất là chất của cây, tháng Ngọ cành lá phồn thịnh nên luận là sinh, tháng Hợi lá rụng nên luận là tử.
Cách lý giải này ăn khớp với bảng khởi ở mục trên: Giáp Trường Sinh tại Hợi, Tử tại Ngọ; Ất Trường Sinh tại Ngọ, Tử tại Hợi. Hai can cùng hành Mộc nhưng vị trí sinh tử ngược nhau chính là hệ quả của lối phân biệt khí và chất.
Có phái cho âm dương đồng sinh đồng tử không?
Có. Đây là chỗ các sách không thống nhất, nên phải nêu đủ hai bên.
Phía chủ trương âm dương đồng sinh đồng tử: Từ Nhạc Ngô trong phần bình chú Tử Bình Chân Thuyên chương 3 viết sinh vượng mộ tuyệt thuộc về ngũ hành chứ không thuộc về mười can, và âm trường sinh không có lực. Trích Thiên Tủy nguyên chú đặt câu hỏi: Ất tử ở Hợi, mà Hợi tàng Nhâm sinh Ất, vậy sao gọi là tử. Nhâm Thiết Tiều đề nghị luận Ất gặp Ngọ, Kỷ gặp Dậu, Tân gặp Tý, Quý gặp Mão là Thực Thần tiết khí, còn Ất gặp Hợi, Quý gặp Thân luận là Ấn.
Ví dụ minh họa: trụ Bính Tý, Kỷ Hợi, Ất Hợi, Bính Tý. Nếu theo lối âm nghịch thì Ất bệnh ở Tý, tử ở Hợi, thành cực suy; trong khi Nhâm thị đọc lá số này theo hướng thủy mộc thái quá. Hai lối đọc cho hai kết luận trái ngược trên cùng một lá số.
Ba cách khởi vòng cho can âm, tóm lại: Uyên Hải Tử Bình và nguyên văn Tử Bình Chân Thuyên cho can âm khởi riêng và đi nghịch (Ất sinh Ngọ); Từ Nhạc Ngô và Nhâm Thiết Tiều cho âm dương đồng sinh đồng tử theo ngũ hành (Ất cũng sinh Hợi nhưng đi thuận như Giáp). Trộn hai thuyết thành một thứ không sách nào viết là sai.
Về Thổ cũng có dị biệt: bảng Uyên Hải cho Mậu theo Bính sinh Dần, Kỷ theo Đinh sinh Dậu, nhưng chính mục Luận Sinh Vượng trong sách lại viết Mậu ở Tị, Kỷ ở Ngọ; còn Từ Nhạc Ngô bác thuyết Thổ theo Thủy sinh ở Thân.
Vòng Trường Sinh nối với tàng can và tứ sinh tứ chính tứ mộ ra sao?
Dần, Thân, Tị, Hợi là nơi ngũ hành trường sinh và lâm quan, gọi là tứ sinh. Tý, Ngọ, Mão, Dậu là đế vượng, gọi là tứ chính. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là mộ, gọi là tứ mộ.

Vì thế Dần tàng Giáp (Giáp lâm quan) cùng Bính và Mậu (trường sinh). Tử Bình Chân Thuyên tóm gọn: Lộc ở lâm quan, bại ở mộc dục, tức Lâm Quan chính là Lộc của can.
Công dụng thực tế của vòng Trường Sinh là gì?
Công dụng chính là đo thông căn. Từ Nhạc Ngô viết can thông căn không chỉ ở lộc vượng mà trường sinh, dư khí, mộ khố đều là căn, nên Giáp Ất gặp Hợi, Thìn, Mùi đều có căn. Trích Thiên Tủy chương Suy vượng nói hai can Tỷ Kiếp trợ không bằng một chi trường sinh lộc vượng. Tử Bình Chân Thuyên chương 17 phân biệt ngày Nhâm Thìn, Bính Tuất là tọa khố có căn, còn Bính Thìn, Nhâm Tuất thì không, đồng thời bác thuyết mộ khố phải xung mới phát.
Vòng Trường Sinh được dùng như một lớp thông tin bổ trợ, kết hợp với việc luận vượng suy tổng thể của Nhật Chủ theo mùa (vượng tướng hưu tù tử) và các mối quan hệ hình, xung, hợp, hại giữa các chi.
Các giai đoạn Trường Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng thường được xem là nhóm vượng, cho thấy năng lượng của can đó dồi dào. Bệnh, Tử, Tuyệt là nhóm suy, cho thấy năng lượng yếu, cần hỗ trợ thêm từ các yếu tố khác trong lá số. Riêng giai đoạn Mộ có ý nghĩa đặc biệt, thường được dùng để luận về sự tàng trữ, tích lũy, hoặc trong một số trường hợp liên quan tới sức khỏe và tang sự, tùy theo vị trí Mộ rơi vào trụ nào.
Điểm cần giữ là vị trí của vòng này trong chuỗi: nó thuộc bước đo vượng suy, đóng góp vào tiêu chí đắc địa, và không thay thế cho việc luận tổng thể ngũ hành của cả lá số. Dùng nó tách rời khỏi chuỗi ấy thì dễ dùng sai.
Có nên đọc giai đoạn Trường Sinh thành cát hung máy móc không?
Không nên. Uyên Hải Tử Bình có gán Trường Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng là cát; Mộc Dục, Suy, Bệnh là không cát; Tử, Tuyệt là hung; Thai nửa cát. Nhưng chính sách ấy, ở mục Lại luận ngũ hành sinh vượng suy tuyệt cát hung, lại cảnh báo: ngày Bính giờ Hợi (Bính tuyệt ở Hợi) lại nhiều quý cách vì Hợi chứa Giáp là Ấn, còn ngày Mậu giờ Tị (Mậu lộc ở Tị) làm quan không hiển vì Tị sinh kim là Thương Quan.
Nghĩa là phép gán cát hung theo từng giai đoạn chỉ là lớp tham khảo, phải đặt cạnh tàng can và thập thần mới đọc đúng. Cũng vì vậy, cột mức năng lượng trong bảng ở trên không thay cho phép gán cát hung của Uyên Hải, chỗ Mộc Dục sách ghi không cát và Thai ghi nửa cát.
Hình minh họa vòng Trường Sinh đang dùng có phải của Bát Tự không?
Không phải. Hình minh họa gắn trong bài có chú thích khởi theo cục, đi thuận hay nghịch theo âm dương nam nữ. Đó là vòng Tràng Sinh của Tử Vi, khởi theo cục và theo giới tính. Vòng Trường Sinh của Bát Tự khác ở chỗ khởi theo từng can, mỗi can một điểm khởi riêng, không dùng cục và không chia theo nam nữ.
Bài tổng quan chủ đề: Bát Tự (Tứ Trụ) là gì? Cách xem vận mệnh qua 8 chữ Can Chi
