Bảy loại hình di sản văn hoá phi vật thể được quy định ở đâu?
Bảy loại hình này được quy định tại Nghị định số 39/2024/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 16/4/2024, quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Nghị định nêu rõ việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể được thực hiện đối với bảy loại hình, và đây cũng là khung phân loại được dùng thống nhất trong hồ sơ khoa học, biên bản kiểm kê và hồ sơ đề nghị ghi danh.
Cần phân biệt hai tầng văn bản. Luật Di sản văn hoá (sửa đổi) đưa ra khái niệm và nguyên tắc quản lý chung, còn Nghị định 39/2024/NĐ-CP cụ thể hoá danh mục bảy loại hình phục vụ công tác kiểm kê. Trong phiên thảo luận tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XV (chiều 23/10/2024), các đại biểu đánh giá dự thảo Luật Di sản văn hoá (sửa đổi) là bước tiến quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát huy di sản văn hoá, đồng thời đề nghị làm rõ thêm khái niệm di sản văn hoá phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền.
Bảy loại hình đó là gì?
Nghị định 39/2024/NĐ-CP định nghĩa từng loại hình dựa trên cách cộng đồng biểu đạt văn hoá, chứ không dựa trên sản phẩm cuối cùng. Bảng dưới đây tóm tắt định nghĩa và ví dụ nhận diện.
| STT | Loại hình | Nội dung cốt lõi theo Nghị định 39/2024/NĐ-CP | Ví dụ nhận diện |
|---|---|---|---|
| 1 | Tiếng nói chữ viết | Biểu đạt văn hoá qua ngôn ngữ, ký tự để truyền đạt thông tin, trao truyền kiến thức, ký ức, giá trị văn hoá xã hội | Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số |
| 2 | Ngữ văn dân gian | Tác phẩm do cộng đồng sáng tạo, truyền miệng qua nhiều thế hệ: truyện, truyền thuyết, sử thi, ca dao, tục ngữ, dân ca, hò vè, câu đố | Sử thi, truyện cổ, ca dao |
| 3 | Nghệ thuật trình diễn dân gian | Diễn xướng do cộng đồng sáng tạo và thực hành: âm nhạc, hát, múa, trò diễn | Dân ca quan họ, hát ru, dân ca M'Nông |
| 4 | Tập quán xã hội và tín ngưỡng | Hoạt động thường xuyên mang tính nghi lễ, thể hiện niềm tin gắn với sự kiện quan trọng, nhận thức về thế giới và lịch sử | Nghi lễ cúng rừng, nghi lễ cầu sức khoẻ |
| 5 | Nghề thủ công truyền thống | Thực hành, sáng tạo thủ công với kỹ thuật, hình thức, trang trí, nguyên vật liệu có yếu tố bản địa, trao truyền qua các thế hệ, tạo sản phẩm độc bản | Nghề làm muối, nghề làm nón lá, nghề làm bánh Pía |
| 6 | Lễ hội truyền thống | Tập hợp nhiều biểu đạt văn hoá mang tính nghi lễ, thực hành theo chu kỳ tại không gian văn hoá liên quan | Lễ hội đua thuyền, lễ hội đền, đình |
| 7 | Tri thức dân gian | Biểu đạt văn hoá hình thành từ quan hệ giữa cộng đồng với môi trường tự nhiên và xã hội để thích ứng, tồn tại: kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng ứng xử hài hoà | Tri thức về cây thuốc, canh tác, ứng xử với thiên nhiên |
Nghề thủ công truyền thống thuộc nhóm nào?
Nghề thủ công truyền thống là loại hình thứ năm trong bảy loại hình. Đây là câu hỏi thường gặp vì nhiều người vẫn xếp nghề thủ công vào nhóm "nghệ thuật" hoặc "kinh tế", nhưng theo Nghị định 39/2024/NĐ-CP, tiêu chí nhận diện nằm ở ba điểm: thực hành thủ công, có yếu tố bản địa trong kỹ thuật và nguyên vật liệu, và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác để tạo ra sản phẩm có tính độc bản mang bản sắc cộng đồng.
Ba tiêu chí này giúp phân biệt nghề thủ công truyền thống với sản xuất công nghiệp. Một cơ sở làm nón bằng máy, sản phẩm đồng loạt, không có bí quyết gia truyền thì không thuộc loại hình này. Ngược lại, nghề làm nón lá Sai Nga ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã được công bố là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2020, cùng đợt với nghề làm muối ở Bạc Liêu và nghề làm bánh Pía ở Sóc Trăng. Cả ba đều thuộc loại hình nghề thủ công truyền thống.
Điều đáng lưu ý là đơn vị được ghi danh không phải sản phẩm, mà là cộng đồng hành nghề cùng không gian và tri thức nghề. Đây là lý do hồ sơ di sản nghề thủ công thường gắn với địa danh cụ thể, chứ không ghi danh một nghề chung chung.
Tri thức dân gian thuộc nhóm nào?
Tri thức dân gian là loại hình thứ bảy, cũng là loại hình trừu tượng nhất trong bảy nhóm. Nghị định định nghĩa đây là biểu đạt văn hoá hình thành từ mối quan hệ qua lại trong lịch sử giữa cộng đồng với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội để thích ứng, tồn tại, thể hiện qua kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng ứng xử linh hoạt, hài hoà với tự nhiên và xã hội.
Khác với nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian không nhất thiết tạo ra sản phẩm cầm nắm được. Trọng tâm là hệ kiến thức. Ví dụ, nghi lễ Naox Lungx (cúng rừng) của người Mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, hay lễ cúng rừng của người Giáy ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, được công bố năm 2020, phản ánh tri thức về rừng và cách ứng xử với rừng. Tuy nhiên cần phân biệt: bản thân nghi lễ có thể được xếp vào tập quán xã hội và tín ngưỡng, còn phần kiến thức về rừng, về mùa vụ, về giống cây đi kèm mới là tri thức dân gian. Trong thực tế lập hồ sơ, một di sản có thể được đề nghị xếp vào loại hình nào phù hợp nhất với trọng tâm của nó.
Vì sao phải chia thành bảy loại hình thay vì một danh mục chung?
Cách chia này xuất phát từ yêu cầu của Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, trong đó di sản phi vật thể được nhận diện qua năm lĩnh vực biểu đạt, và mỗi quốc gia thành viên cụ thể hoá thành khung phân loại phù hợp với thực tiễn nước mình. Việc tách bảy loại hình giúp cơ quan quản lý xác định đúng chủ thể, đúng phương thức bảo vệ và đúng tiêu chí đánh giá nguy cơ mai một.
Ví dụ, một làn điệu dân ca bị mai một vì lớp nghệ nhân cao tuổi qua đời, biện pháp phù hợp là truyền dạy và ghi âm. Một nghề thủ công bị mai một vì nguyên liệu bản địa cạn kiệt hoặc không cạnh tranh được về giá, biện pháp lại phải bao gồm cả quy hoạch vùng nguyên liệu và hỗ trợ tiêu thụ. Nếu gộp tất cả vào một nhóm, chính sách sẽ khó chính xác.
Nghị định 39/2024/NĐ-CP quy định chu kỳ kiểm kê thế nào?
Chu kỳ kiểm kê khác nhau tuỳ theo di sản nằm trong danh sách nào. Cụ thể:
- Di sản trong Danh sách đại diện của UNESCO: 6 năm một lần, hoặc theo quy định khác của UNESCO.
- Di sản trong Danh sách cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO: 4 năm một lần, hoặc theo quy định khác của UNESCO.
- Di sản trong Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia: 3 năm một lần, tính từ thời điểm được ghi danh.
Chu kỳ này có ý nghĩa thực tiễn: nó buộc cơ quan quản lý phải cập nhật tình trạng thực hành di sản, chứ không chỉ ghi danh một lần rồi để đó. Đây cũng là cơ chế để phát hiện sớm di sản có nguy cơ mai một, thất truyền.
Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ được đặt ra cho nhóm nào?
Nghị định nêu nguyên tắc ưu tiên bảo vệ đối với di sản văn hoá phi vật thể có nguy cơ bị mai một, thất truyền, và di sản của cộng đồng các dân tộc sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhóm dân tộc có khó khăn, đặc thù, cùng di sản có giá trị toàn cộng đồng, xã hội.
Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh bảo đảm tôn trọng sự đa dạng văn hoá, vai trò của cộng đồng chủ thể và tính đặc thù dân tộc, vùng miền. Di sản văn hoá phi vật thể của các cộng đồng khác nhau đều được tôn trọng như nhau. Ưu tiên quyền quyết định của cộng đồng chủ thể vì sự tồn tại, thực hành lâu dài, liên tục của di sản.
Trong thảo luận tại Quốc hội ngày 23/10/2024, đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Trà Vinh) đề nghị làm rõ khái niệm di sản văn hoá phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền, ví dụ số lượng nghệ nhân giảm mạnh, không gian văn hoá liên quan bị xâm phạm hoặc biến mất. Đại biểu cũng đề nghị bổ sung biện pháp hỗ trợ cộng đồng ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, và đề nghị danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú cần kèm chế độ hỗ trợ lâu dài về tài chính, bảo hiểm và y tế.
Thực tế công bố di sản quốc gia cho thấy điều gì về bảy loại hình?
Đợt công bố 23 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia tháng 10/2020 là một ví dụ cho thấy bảy loại hình vận hành trong thực tế. Theo Báo Điện tử Chính phủ, 23 di sản này thuộc năm loại hình: nghề thủ công truyền thống, lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng, tri thức dân gian.
Đáng chú ý là hai loại hình tiếng nói chữ viết và ngữ văn dân gian không xuất hiện trong đợt công bố đó. Điều này không có nghĩa hai loại hình này không quan trọng, mà thường phản ánh đặc thù của hồ sơ: ngữ văn dân gian và tiếng nói chữ viết thường được lồng trong các hồ sơ lớn hơn, hoặc gặp khó khăn khi xác định cộng đồng chủ thể và phạm vi không gian thực hành. Đây là điểm cần lưu ý khi đối chiếu danh mục, tránh suy luận rằng loại hình nào đó bị bỏ quên.
Một số di sản trong đợt công bố năm 2020 có thể kể đến: nghề làm muối ở Bạc Liêu, nghề làm nón lá Sai Nga ở Phú Thọ, nghề làm bánh Pía ở Sóc Trăng (nghề thủ công truyền thống); lễ hội Tranh đầu pháo ở Cao Bằng, lễ hội Đền Quát ở Hải Dương, lễ hội Đua thuyền Tứ Linh ở Lý Sơn, Quảng Ngãi (lễ hội truyền thống); hát ru của người Việt ở Cần Thơ, dân ca Nau M'Pring của người M'Nông (nghệ thuật trình diễn dân gian); lễ Nhảy lửa của người Dao Đỏ ở Hà Giang, nghi lễ Then Khoăn của người Tày ở Lào Cai (tập quán xã hội và tín ngưỡng); nghi lễ Naox Lungx cúng rừng của người Mông ở Si Ma Cai, lễ cúng rừng của người Giáy ở Văn Bàn (gắn với tri thức dân gian về rừng).
Liên hoan di sản văn hoá phi vật thể được tổ chức theo chu kỳ nào?
Nghị định 39/2024/NĐ-CP cũng quy định về Liên hoan di sản văn hoá phi vật thể, gồm các hoạt động thực hành, trình diễn của cộng đồng chủ thể, trưng bày, triển lãm, giới thiệu, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng, giáo dục, quảng bá.
Về thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định tổ chức Liên hoan quy mô từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên, quốc gia và quốc tế tại Việt Nam. Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định tổ chức Liên hoan trên địa bàn.
Về định kỳ, Liên hoan tất cả các loại hình di sản văn hoá phi vật thể do cơ quan chức năng thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức ở quy mô quốc gia, quốc tế tại Việt Nam theo định kỳ 3 năm một lần. Liên hoan từng loại hình di sản văn hoá phi vật thể quy mô quốc gia trong nước tổ chức định kỳ 1 năm một lần. Liên hoan có phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trở lên do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố có di sản đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định khi có sự thống nhất của các tỉnh, thành phố còn lại, để tổ chức luân phiên 2 năm một lần.
Kết luận ngắn
Bảy loại hình di sản văn hoá phi vật thể là khung phân loại pháp lý, không phải bảng xếp hạng giá trị. Nghề thủ công truyền thống là loại hình thứ năm, tri thức dân gian là loại hình thứ bảy. Việc xác định đúng loại hình quyết định cách lập hồ sơ, cách kiểm kê và cách thiết kế biện pháp bảo vệ phù hợp với từng cộng đồng chủ thể.
