Tri thức / Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống

Dân ca quan họ Bắc Ninh là gì? Liền anh, liền chị và lề lối kết chạ

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Dân ca quan họ Bắc Ninh là gì? Liền anh, liền chị và lề lối kết chạ

TL;DR: Dân ca quan họ Bắc Ninh là loại hình dân ca đối đáp nam nữ của vùng Kinh Bắc cũ, do các liền anh và liền chị trình diễn theo lề lối riêng như kết chạ, canh hát và hát đối. Tháng 9 năm 2009, UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản cộng đồng, không phải một loại hình sân khấu chuyên nghiệp, nên giá trị của nó nằm ở cách người dân thực hành và trao truyền.

Dân ca quan họ Bắc Ninh là gì?

Dân ca quan họ Bắc Ninh là loại hình dân ca đối đáp nam nữ của vùng đồng bằng Bắc Bộ, phát triển mạnh ở vùng Kinh Bắc xưa, trước tháng 7/2025 thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, nay cùng thuộc tỉnh Bắc Ninh[4]. Người trình diễn không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp trên sân khấu, mà là những người nông dân, thợ thủ công, quanh năm sống bằng nghề ruộng và nghề phụ, hát với nhau trong những dịp hội làng, mùa lễ hội và những buổi giao lưu giữa các làng kết chạ. Tháng 9 năm 2009, UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[1].

Liền anh, liền chị là ai?

Liền anh là những người nam, liền chị là những người nữ tham gia hát quan họ theo lề lối truyền thống. Cách gọi "liền anh", "liền chị" gắn với vai trò trong canh hát: mỗi bên hát đối đáp với nhau, chứ không phải một bên trình diễn cho bên kia nghe. Theo mô tả của UNESCO, bài hát được hát đối đáp giữa hai người nữ của một làng hát bè với nhau và hai người nam của làng khác đáp lại bằng giai điệu tương tự nhưng khác lời[4].

Liền anh, liền chị không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp. Họ là người dân trong làng. Hát quan họ là một phần sinh hoạt cộng đồng, không phải nghề kiếm sống. Chính vì vậy, đặc điểm của quan họ là tính cộng đồng cao, không có khoảng cách giữa người hát và người nghe như trên sân khấu hiện đại.

Số lượng người tham gia quan họ trong cộng đồng khá lớn. Theo lời Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại lễ kỷ niệm tháng 2 năm 2019, từ chỗ chỉ có 49 làng quan họ gốc và 34 câu lạc bộ, sau 10 năm được UNESCO ghi danh (2009-2019), tỉnh đã phát triển lên 369 làng quan họ thực hành và 381 câu lạc bộ với trên một vạn hội viên tham gia, hàng nghìn người có khả năng truyền dạy[2]. Con số này cho thấy quan họ không chỉ tồn tại trong ký ức, mà vẫn đang được thực hành ở quy mô cộng đồng.

Lề lối kết chạ trong quan họ là gì?

Kết chạ là tục kết nghĩa giữa các làng với nhau. UNESCO viết rằng ở vùng này nhiều làng kết nghĩa với nhau và củng cố mối quan hệ ấy qua các tập quán xã hội như hát quan họ; tục lệ không cho những người kết bạn hát với nhau lấy nhau[4].

Tục kết chạ không chỉ có trong quan họ. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, kết chạ là một phong tục phổ biến giữa các làng, hình thành từ nhu cầu gắn kết cộng đồng trong quá trình khai phá, trị thủy và bảo vệ cuộc sống trước thiên tai, địch họa[3]. Một trường hợp được ghi nhận là tục kết chạ giữa làng Vạn Phúc (nay thuộc xã Nam Phù, Hà Nội) và làng Nga My (nay thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội), hai làng cách nhau khoảng 30km; theo thần phả và lời kể của người làng, mối kết chạ ấy có từ thời vua Lý Thái Tổ[3]. Đây là ví dụ cho thấy kết chạ là một phong tục có chiều dài lịch sử, không chỉ riêng quan họ.

Canh hát quan họ diễn ra như thế nào?

Canh hát là một buổi hát quan họ theo lề lối truyền thống. UNESCO mô tả rằng quan họ được hát ở các nghi lễ, lễ hội, cuộc thi và những buổi gặp gỡ thân mật, nơi khách hát nhiều bài cho chủ nhà nghe trước khi hát giã từ[4]. Báo Nhân Dân nhắc tới những câu hát mời trầu, mời nước quen thuộc của quan họ[1].

Về trang phục, UNESCO ghi liền chị đội nón rộng vành tròn và chít khăn, liền anh đội khăn xếp, cầm ô và mặc áo dài[4]. Chiếc nón quai thao với dải lụa đào được báo Nhân Dân xem là hình ảnh biểu trưng của vùng quan họ[1].

UNESCO ghi nhận quan họ có hơn 400 lời ca với 213 biến thể làn điệu, nói về nỗi nhớ thương khi xa cách và niềm vui gặp gỡ, cùng bốn kỹ thuật hát nền, vang, rền, nảy[4].

Vì sao UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh?

UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tháng 9 năm 2009[1]. Quyết định ghi danh nêu rằng quan họ được hát trong nhiều dịp như thờ thần bảo hộ, nghi lễ cầu sinh sôi và hội làng, được cộng đồng thừa nhận và trao truyền như biểu tượng bản sắc của địa phương và của vùng[5].

Sau khi được ghi danh, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn: tôn vinh và tri ân các "Báu vật nhân văn sống", phong tặng 71 nghệ nhân và 5 nghệ nhân ưu tú, hỗ trợ hàng tháng cho các nghệ nhân và kinh phí cho các làng và câu lạc bộ quan họ; mở rộng các hình thức truyền dạy trong cộng đồng và đưa quan họ vào chương trình giảng dạy chính thức của trường học; xây dựng không gian diễn xướng quan họ[2]. Đây là những cam kết với UNESCO được thực hiện sau ghi danh.

Tuy nhiên, bảo tồn quan họ đang đối mặt với khó khăn. Đội ngũ nghệ nhân quan họ cổ tuổi ngày càng cao, trong khi lớp nghệ nhân kế tiếp chưa nhiều; các cá nhân, tổ chức tâm huyết với sự nghiệp văn hóa không phải lúc nào cũng được hỗ trợ, tôn vinh kịp thời[2]. Đây là những thách thức được nêu trong các kỳ kỷ niệm ghi danh, cho thấy bảo tồn di sản không phải việc làm một lần.

Quan họ qua những con số

Các nguồn chính thức nêu một số con số về quan họ như sau:

Nội dungCon sốNguồn
Lời ca và làn điệuHơn 400 lời ca, 213 biến thể làn điệuUNESCO
Làng quan họ gốc49 làngVietnamPlus, 2019
Làng quan họ thực hành năm 2019369 làngVietnamPlus, 2019
Câu lạc bộ quan họ năm 2019381 câu lạc bộ, trên một vạn hội viênVietnamPlus, 2019
Nghệ nhân được phong tặng tới năm 201971 nghệ nhân, 5 nghệ nhân ưu túVietnamPlus, 2019
Bài quan họ cổ đã ký âm107 bàiVietnamPlus, 2019

Số lời ca và làn điệu lấy từ trang di sản của UNESCO[4]; các con số của tỉnh được công bố tại lễ kỷ niệm 10 năm ghi danh, tháng 2 năm 2019[2].

Quan họ trong đời sống đương đại

Sau 15 năm ghi danh, quan họ đã có mặt ở nhiều không gian khác nhau, từ bàn trà, sân khấu hội nghị đến các cuộc vui sum họp[1]. Đây là một thay đổi so với không gian canh hát truyền thống, vốn gắn với nhà riêng và đình làng. Sự mở rộng không gian trình diễn có mặt tích cực là giúp quan họ tiếp cận nhiều người hơn, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về việc giữ lề lối truyền thống.

Một số hình thức trình diễn mới đã được tổ chức định kỳ, như hát quan họ trên thuyền kết hợp với phố đi bộ giai đoạn 2015-2020[1]. Những hình thức này thu hút du khách và tạo không gian cho quan họ, nhưng không thay thế canh hát truyền thống. Việc phân biệt giữa trình diễn phục vụ du lịch và thực hành di sản trong cộng đồng là cần thiết khi đánh giá sức sống của quan họ.

Các câu lạc bộ quan họ cũng được thành lập ở nhiều địa phương trong nước, kết nối những người yêu quan họ[1]. Đây là một hình thức tổ chức mới, giúp quan họ không chỉ tồn tại ở Bắc Ninh mà còn lan tỏa ra các tỉnh, thành khác.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu quan họ

Thứ nhất, quan họ không phải một loại hình dân ca duy nhất của Việt Nam. Việt Nam có nhiều loại dân ca được UNESCO ghi danh, và mỗi loại có đặc điểm riêng[1]. Việc so sánh quan họ với các loại hình khác cần dựa trên tiêu chí cụ thể, không nên đánh giá chung chung.

Thứ hai, nguồn gốc và thời điểm hình thành quan họ không có tài liệu thống nhất. Một số tài liệu nhắc đến truyền thống hát quan họ có từ hơn 300 năm[1], nhưng con số này cần được hiểu là ước lệ, không phải niên đại chính xác. Việc xác định niên đại hình thành quan họ là vấn đề học thuật còn để ngỏ.

Thứ ba, quan họ là di sản của cộng đồng, không phải của riêng một tổ chức hay cá nhân nào. Việc bảo tồn quan họ cần sự tham gia của cộng đồng, không chỉ dựa vào nỗ lực của chính quyền hay các nhà nghiên cứu. Đây là quan điểm được nhấn mạnh trong các kỳ kỷ niệm ghi danh[2].

Tạm kết

Dân ca quan họ Bắc Ninh là một loại hình dân ca đối đáp nam nữ, gắn với cộng đồng cư dân vùng Kinh Bắc. Giá trị của quan họ nằm ở lề lối thực hành, ở cách liền anh, liền chị hát với nhau qua kết chạ và canh hát, chứ không chỉ ở các làn điệu. Việc UNESCO ghi danh năm 2009 là sự ghi nhận giá trị của di sản, đồng thời đặt ra trách nhiệm bảo tồn cho cộng đồng và các cấp chính quyền. Hiểu đúng về quan họ giúp tránh những hiểu lầm phổ biến, như đồng nhất quan họ với một loại hình sân khấu chuyên nghiệp, hoặc coi quan họ là di sản đã "đóng băng" trong quá khứ.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh năm nào?

Tháng 9 năm 2009, UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Liền anh, liền chị trong quan họ là ai?

Liền anh là những người nam, liền chị là những người nữ tham gia hát quan họ theo lề lối truyền thống. Họ thường là người dân trong làng, không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp, và hát đối đáp với nhau trong các canh hát.

Kết chạ trong quan họ có nghĩa là gì?

Kết chạ là tục kết nghĩa giữa các làng với nhau. Trong quan họ, kết chạ tạo cơ sở để hình thành những bọn quan họ hát với nhau lâu dài, gắn với lễ nghĩa và sự tương trợ giữa các cộng đồng.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghiBáo Nhân Dân, Đoạn mở đầu và phần "Di sản ngay trong lòng dân"Tháng 9 năm 2009, Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
  2. ↑ abcdeVietnamPlus, Phần phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc NinhTừ chỗ chỉ có 49 làng quan họ gốc và 34 câu lạc bộ, đến nay, tỉnh đã phát triển lên 369 làng quan họ thực hành, 381 câu lạc bộ với trên một vạn hội viên tham gia
  3. ↑ abVietnamPlus, Phần mở đầu và phần "Mối giao hảo kéo dài một thiên niên kỷ"Tục kết chạ (kết nghĩa) là một trong những phong tục lâu đời và giàu giá trị nhân văn của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  4. ↑ abcdefgUNESCO. Quan Họ Bắc Ninh folk songs (Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ghi danh năm 2009)
  5. ↑UNESCO. Quyết định 4.COM 13.76 của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2009)
#DânCaQuanHọBắcNinh#QuanHọ#LiềnAnhLiềnChị#KếtChạ#DiSảnVănHóaPhiVậtThể#UNESCO#NghệThuậtTruyềnThống