Bốn phép biến và câu hỏi vì sao một quẻ lại sinh ra quẻ khác
Trong Kinh Dịch, một quẻ không đứng yên. Từ một quẻ gốc, người ta có thể suy ra nhiều quẻ phái sinh bằng những phép biến có quy tắc rõ ràng. Bốn phép thông dụng nhất là quẻ biến, quẻ hỗ, quẻ thác và quẻ tổng. Mỗi phép trả lời một câu hỏi khác nhau về cùng một tình thế, nên chúng thường được đọc như bốn lớp của một câu chuyện chứ không phải bốn lời phán rời rạc.
Theo cách trình bày phổ biến, một quẻ gồm sáu hào xếp chồng, đếm từ dưới lên: hào một ở dưới cùng, hào sáu ở trên cùng. Mỗi hào hoặc là dương (vạch liền) hoặc là âm (vạch đứt). Sáu hào ghép thành hai quái ba hào: nội quái ở dưới và ngoại quái ở trên. Tám quái kết hợp với nhau cho ra 64 quẻ. Tất cả các phép biến dưới đây đều thao tác trên sáu hào ấy.
Quẻ biến là gì và vì sao nó là quẻ được dùng nhiều nhất?
Quẻ biến là quẻ có được bằng cách đảo trạng thái của hào động, giữ nguyên năm hào còn lại. Hào dương động thì thành âm, hào âm động thì thành dương. Nếu có nhiều hào cùng động thì đảo tất cả các hào động đó.

Quẻ biến được dùng nhiều nhất vì nó gắn trực tiếp với hào động, mà hào động là tiêu điểm của cả quẻ. Khi gieo quẻ, hào động cho biết chỗ nào đang có biến chuyển. Quẻ biến cho biết nếu đà ấy tiếp diễn thì tình thế nghiêng về đâu. Nói cách khác, quẻ gốc là hiện tại, quẻ biến là hướng tới.
Một điểm cần lưu ý: hào động không tồn tại độc lập. Nó có thể sinh, khắc, hợp hoặc xung với các hào khác trong quẻ, nên khi luận quẻ biến người ta thường đọc kèm mối quan hệ giữa hào động và hào biến, chứ không chỉ nhìn hình quẻ mới.
Quẻ hỗ là gì và lấy từ những hào nào?
Quẻ hỗ được lập từ chính ruột của quẻ gốc: lấy hào 2, 3, 4 làm nội quái và hào 3, 4, 5 làm ngoại quái. Vì vậy quẻ hỗ luôn tính từ quẻ gốc, cố định trên cả sáu hào, không thay đổi theo hào động.

Một lỗi rất hay gặp ở người mới là tính quẻ hỗ từ quẻ biến. Điều đó sai. Quẻ hỗ phải rút ra từ quẻ gốc. Quẻ hỗ cho thấy mạch ngầm đang chạy bên dưới bề mặt, những động lực chưa lộ ra khi chỉ nhìn quẻ gốc. Trong nhiều cách đọc, quẻ gốc là bối cảnh hiện tại, quẻ hỗ là quá trình tiềm ẩn, quẻ biến là kết cục dự kiến.
Cũng có thuyết mở rộng hơn, gọi là "nhất quái hỗ ngũ quái": từ một quẻ có thể giao hỗ thành năm quẻ khác nhau bằng cách lấy các cụm hào liên tiếp. Ví dụ với quẻ Truân, người ta lần lượt rút ra các quẻ Kiển, Tỷ, Bác, Di, Phục từ những cụm hào khác nhau. Cách này không gọi là quẻ hỗ mà gọi là tạp quái, và nó thuộc về một lối phân tích riêng, không phải quy tắc lập quẻ hỗ tiêu chuẩn.
Quẻ thác và quẻ tổng khác nhau ở chỗ nào?
Hai phép này hay bị lẫn với nhau nên cần tách rõ.
Quẻ thác, còn gọi là quẻ đối hay quẻ bàng thông, được lập bằng cách đảo trạng thái của cả sáu hào: dương thành âm, âm thành dương, toàn bộ. Kết quả là quẻ có hình dáng đối lập hoàn toàn với quẻ gốc. Ví dụ Càn đối thành Khôn, Khảm đối thành Ly.
Quẻ tổng, còn gọi là quẻ phản hay quẻ đảo, được lập bằng cách lật ngược cả quẻ từ trên xuống dưới. Hào một thành hào sáu, hào hai thành hào năm, và ngược lại. Cách này giữ nguyên số hào âm và hào dương, chỉ đổi vị trí.
Hai phép này cho hai góc nhìn khác nhau. Quẻ thác cho thấy mặt đối lập, cái hoàn toàn trái ngược với tình thế đang xét. Quẻ tổng cho thấy chính tình thế ấy nhưng nhìn từ phía bên kia, như soi gương. Trong truyền thống chú giải, người ta nhận xét rằng trong 64 quẻ, cứ hai quẻ đi thành một cặp, hoặc là quẻ lật ngược của nhau, hoặc là quẻ biến của nhau. Điều này cho thấy hai phép tổng và thác là công cụ để xếp cặp và đọc đối ứng.
Bảng bốn phép biến: cách lập và nghĩa thường gán
| Phép | Cách lập | Nghĩa thường gán |
|---|---|---|
| Quẻ biến | Đảo trạng thái hào động, giữ nguyên năm hào còn lại | Hướng đi sắp tới nếu mạch hiện tại tiếp diễn |
| Quẻ hỗ | Lấy hào 2-3-4 làm nội quái, hào 3-4-5 làm ngoại quái của quẻ gốc | Động lực bên trong, quá trình tiềm ẩn |
| Quẻ thác | Đảo trạng thái cả sáu hào | Mặt đối lập hoàn toàn, cái trái ngược với tình thế đang xét |
| Quẻ tổng | Lật ngược cả quẻ từ trên xuống dưới | Chính tình thế ấy nhìn từ phía bên kia |
Quy tắc đọc theo số hào động mà tiện ích gieo quẻ áp dụng
Khi gieo quẻ, số hào động có thể là không, một, hai, ba, bốn, năm hoặc sáu. Mỗi trường hợp có cách đọc khác nhau. Cách phổ biến nhất được ghi trong Dịch học khải mông của Chu Hy, và đây là quy ước mà phần lớn tiện ích gieo quẻ hiện nay áp dụng.
- Không hào động: đọc lời quẻ (quái từ), lấy cả quẻ làm chủ.
- Một hào động: đọc lời hào của hào động đó làm chính.
- Hai hào động: đọc cả hai lời hào, lấy hào ở trên làm chủ.
- Ba hào động: đọc lời quẻ gốc và lời quẻ biến, lấy quẻ gốc làm chủ, quẻ biến làm phụ.
- Bốn hào động: đọc hai lời hào không động ở dưới, lấy hào dưới cùng trong hai hào đó làm chủ.
- Năm hào động: đọc lời hào không động duy nhất.
- Sáu hào động: với quẻ Càn, đọc Dụng Cửu; với quẻ Khôn, đọc Dụng Lục. Các quẻ khác đọc lời quẻ biến.
Cần nói rõ: quy tắc này là của một phái, không phải phái nào cũng theo. Có nhà theo cách đọc đơn giản hơn, chỉ cần biết hào động là đủ để luận, không cần đọc hết các hào còn lại. Có nhà lại dùng cách khác cho trường hợp nhiều hào động. Vì vậy khi đọc một quẻ, nên xác định trước tiện ích hoặc sách đang theo quy ước nào.
Các phái đọc quẻ biến, quẻ hỗ khác nhau ra sao?
Ba phái lớn có cách dùng quẻ hỗ và quẻ biến rất khác nhau.
Mai Hoa Dịch Số, do Thiệu Khang Tiết hệ thống hóa đời Tống, đọc quẻ theo ba giai đoạn: chủ, hỗ, biến. Quẻ chủ là tình thế hiện tại, quẻ hỗ là diễn biến bên trong, quẻ biến là kết quả. Mai Hoa cũng dùng cặp Thể-Dụng: quái chứa hào động là Dụng, quái còn lại là Thể. Dụng đại diện cho sự việc, Thể đại diện cho người hỏi. Quan hệ ngũ hành giữa Thể và Dụng cho biết tình thế thuận hay nghịch. Mai Hoa lập quẻ chủ yếu bằng con số hoặc quan sát ngoại cảnh, nên quẻ hỗ và quẻ biến đóng vai trò quan trọng trong việc luận.
Lục Hào, tức Nạp Giáp, gần như không dùng quẻ hỗ. Phái này gán Thiên Can, Địa Chi, lục thân, lục thần vào từng hào rồi luận sinh khắc, xung hợp, vượng suy theo nguyệt kiến và nhật thần. Quẻ biến vẫn được dùng, nhưng quẻ hỗ thì hầu như không xuất hiện trong hệ thống luận đoán.
Cách đọc của Chu Hy trong Dịch học khải mông thiên về đọc lời Kinh, tức quái từ và hào từ, nên quy tắc số hào động của ông gắn với việc chọn đọc câu nào trong sách. Đây là cách đọc khác hẳn Mai Hoa và Lục Hào, vốn thiên về tượng số và ngũ hành.
Những quẻ tự tổng với chính nó
Một điểm dễ bị bỏ qua: không phải quẻ nào lật ngược cũng ra quẻ khác. Có tám quẻ mà khi lật ngược vẫn giữ nguyên hình dáng, tức là tự tổng với chính nó. Đó là Càn, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung Phu, Đại Quá và Tiểu Quá.
Tám quẻ này được xem là trụ cột của Thượng kinh và Hạ kinh. 56 quẻ còn lại giao hỗ chuyển dịch lẫn nhau, đóng vai trò "dụng" trong cấu trúc kinh. Với tám quẻ tự tổng, phép lật ngược không tạo ra quẻ mới, nên khi luận quẻ tổng của chúng, người ta phải dùng phép thác thay thế hoặc ghi nhận rằng quẻ tổng trùng với quẻ gốc.
Đọc bốn lớp quẻ thành một mạch
Khi đã có đủ bốn quẻ, cách đọc thường được trình bày như một dòng liền mạch: quẻ gốc cho biết đang ở đâu, quẻ hỗ cho biết điều gì thật sự diễn ra bên trong, quẻ biến cho biết sẽ đi tới đâu, còn quẻ thác và quẻ tổng cho thêm hai góc nhìn đối lập và soi lại. Không phải lúc nào cũng cần dùng đủ cả bốn. Tùy câu hỏi và tùy phái, người luận có thể chỉ dùng quẻ gốc và quẻ biến, hoặc dùng thêm quẻ hỗ khi cần nhìn vào mạch ngầm.
Cần nhấn mạnh rằng không có quẻ nào là cát tuyệt đối hay hung tuyệt đối. Cùng một quẻ, đặt trong bối cảnh khác nhau, thời vận khác nhau, lại cho lời khuyên khác nhau. Các phái cũng không thống nhất về nghĩa của từng quẻ và từng hào, nên người đọc nên xem đây là công cụ để suy ngẫm về tình thế, không phải lời phán cố định về tương lai.
Bảng quẻ thác, quẻ tổng, quẻ hỗ của 64 quẻ
Bảng tính bằng cùng phép mà tiện ích gieo quẻ của Nhật Nguyệt dùng: quẻ thác đảo âm dương cả sáu hào, quẻ tổng lật quẻ từ trên xuống, quẻ hỗ lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ dưới và hào 3, 4, 5 làm quẻ trên. Tám quẻ tự lật thành chính nó thì quẻ tổng trùng quẻ gốc.
| Số | Quẻ | Quẻ thác | Quẻ tổng | Quẻ hỗ |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Thuần Càn | Thuần Khôn (2) | Thuần Càn (1) | Thuần Càn (1) |
| 2 | Thuần Khôn | Thuần Càn (1) | Thuần Khôn (2) | Thuần Khôn (2) |
| 3 | Thủy Lôi Truân | Hỏa Phong Đỉnh (50) | Sơn Thủy Mông (4) | Sơn Địa Bác (23) |
| 4 | Sơn Thủy Mông | Trạch Hỏa Cách (49) | Thủy Lôi Truân (3) | Địa Lôi Phục (24) |
| 5 | Thủy Thiên Nhu | Hỏa Địa Tấn (35) | Thiên Thủy Tụng (6) | Hỏa Trạch Khuê (38) |
| 6 | Thiên Thủy Tụng | Địa Hỏa Minh Di (36) | Thủy Thiên Nhu (5) | Phong Hỏa Gia Nhân (37) |
| 7 | Địa Thủy Sư | Thiên Hỏa Đồng Nhân (13) | Thủy Địa Tỷ (8) | Địa Lôi Phục (24) |
| 8 | Thủy Địa Tỷ | Hỏa Thiên Đại Hữu (14) | Địa Thủy Sư (7) | Sơn Địa Bác (23) |
| 9 | Phong Thiên Tiểu Súc | Lôi Địa Dự (16) | Thiên Trạch Lý (10) | Hỏa Trạch Khuê (38) |
| 10 | Thiên Trạch Lý | Địa Sơn Khiêm (15) | Phong Thiên Tiểu Súc (9) | Phong Hỏa Gia Nhân (37) |
| 11 | Địa Thiên Thái | Thiên Địa Bĩ (12) | Thiên Địa Bĩ (12) | Lôi Trạch Quy Muội (54) |
| 12 | Thiên Địa Bĩ | Địa Thiên Thái (11) | Địa Thiên Thái (11) | Phong Sơn Tiệm (53) |
| 13 | Thiên Hỏa Đồng Nhân | Địa Thủy Sư (7) | Hỏa Thiên Đại Hữu (14) | Thiên Phong Cấu (44) |
| 14 | Hỏa Thiên Đại Hữu | Thủy Địa Tỷ (8) | Thiên Hỏa Đồng Nhân (13) | Trạch Thiên Quải (43) |
| 15 | Địa Sơn Khiêm | Thiên Trạch Lý (10) | Lôi Địa Dự (16) | Lôi Thủy Giải (40) |
| 16 | Lôi Địa Dự | Phong Thiên Tiểu Súc (9) | Địa Sơn Khiêm (15) | Thủy Sơn Kiển (39) |
| 17 | Trạch Lôi Tùy | Sơn Phong Cổ (18) | Sơn Phong Cổ (18) | Phong Sơn Tiệm (53) |
| 18 | Sơn Phong Cổ | Trạch Lôi Tùy (17) | Trạch Lôi Tùy (17) | Lôi Trạch Quy Muội (54) |
| 19 | Địa Trạch Lâm | Thiên Sơn Độn (33) | Phong Địa Quán (20) | Địa Lôi Phục (24) |
| 20 | Phong Địa Quán | Lôi Thiên Đại Tráng (34) | Địa Trạch Lâm (19) | Sơn Địa Bác (23) |
| 21 | Hỏa Lôi Phệ Hạp | Thủy Phong Tỉnh (48) | Sơn Hỏa Bí (22) | Thủy Sơn Kiển (39) |
| 22 | Sơn Hỏa Bí | Trạch Thủy Khốn (47) | Hỏa Lôi Phệ Hạp (21) | Lôi Thủy Giải (40) |
| 23 | Sơn Địa Bác | Trạch Thiên Quải (43) | Địa Lôi Phục (24) | Thuần Khôn (2) |
| 24 | Địa Lôi Phục | Thiên Phong Cấu (44) | Sơn Địa Bác (23) | Thuần Khôn (2) |
| 25 | Thiên Lôi Vô Vọng | Địa Phong Thăng (46) | Sơn Thiên Đại Súc (26) | Phong Sơn Tiệm (53) |
| 26 | Sơn Thiên Đại Súc | Trạch Địa Tụy (45) | Thiên Lôi Vô Vọng (25) | Lôi Trạch Quy Muội (54) |
| 27 | Sơn Lôi Di | Trạch Phong Đại Quá (28) | Sơn Lôi Di (27) | Thuần Khôn (2) |
| 28 | Trạch Phong Đại Quá | Sơn Lôi Di (27) | Trạch Phong Đại Quá (28) | Thuần Càn (1) |
| 29 | Thuần Khảm | Thuần Ly (30) | Thuần Khảm (29) | Sơn Lôi Di (27) |
| 30 | Thuần Ly | Thuần Khảm (29) | Thuần Ly (30) | Trạch Phong Đại Quá (28) |
| 31 | Trạch Sơn Hàm | Sơn Trạch Tổn (41) | Lôi Phong Hằng (32) | Thiên Phong Cấu (44) |
| 32 | Lôi Phong Hằng | Phong Lôi Ích (42) | Trạch Sơn Hàm (31) | Trạch Thiên Quải (43) |
| 33 | Thiên Sơn Độn | Địa Trạch Lâm (19) | Lôi Thiên Đại Tráng (34) | Thiên Phong Cấu (44) |
| 34 | Lôi Thiên Đại Tráng | Phong Địa Quán (20) | Thiên Sơn Độn (33) | Trạch Thiên Quải (43) |
| 35 | Hỏa Địa Tấn | Thủy Thiên Nhu (5) | Địa Hỏa Minh Di (36) | Thủy Sơn Kiển (39) |
| 36 | Địa Hỏa Minh Di | Thiên Thủy Tụng (6) | Hỏa Địa Tấn (35) | Lôi Thủy Giải (40) |
| 37 | Phong Hỏa Gia Nhân | Lôi Thủy Giải (40) | Hỏa Trạch Khuê (38) | Hỏa Thủy Vị Tế (64) |
| 38 | Hỏa Trạch Khuê | Thủy Sơn Kiển (39) | Phong Hỏa Gia Nhân (37) | Thủy Hỏa Ký Tế (63) |
| 39 | Thủy Sơn Kiển | Hỏa Trạch Khuê (38) | Lôi Thủy Giải (40) | Hỏa Thủy Vị Tế (64) |
| 40 | Lôi Thủy Giải | Phong Hỏa Gia Nhân (37) | Thủy Sơn Kiển (39) | Thủy Hỏa Ký Tế (63) |
| 41 | Sơn Trạch Tổn | Trạch Sơn Hàm (31) | Phong Lôi Ích (42) | Địa Lôi Phục (24) |
| 42 | Phong Lôi Ích | Lôi Phong Hằng (32) | Sơn Trạch Tổn (41) | Sơn Địa Bác (23) |
| 43 | Trạch Thiên Quải | Sơn Địa Bác (23) | Thiên Phong Cấu (44) | Thuần Càn (1) |
| 44 | Thiên Phong Cấu | Địa Lôi Phục (24) | Trạch Thiên Quải (43) | Thuần Càn (1) |
| 45 | Trạch Địa Tụy | Sơn Thiên Đại Súc (26) | Địa Phong Thăng (46) | Phong Sơn Tiệm (53) |
| 46 | Địa Phong Thăng | Thiên Lôi Vô Vọng (25) | Trạch Địa Tụy (45) | Lôi Trạch Quy Muội (54) |
| 47 | Trạch Thủy Khốn | Sơn Hỏa Bí (22) | Thủy Phong Tỉnh (48) | Phong Hỏa Gia Nhân (37) |
| 48 | Thủy Phong Tỉnh | Hỏa Lôi Phệ Hạp (21) | Trạch Thủy Khốn (47) | Hỏa Trạch Khuê (38) |
| 49 | Trạch Hỏa Cách | Sơn Thủy Mông (4) | Hỏa Phong Đỉnh (50) | Thiên Phong Cấu (44) |
| 50 | Hỏa Phong Đỉnh | Thủy Lôi Truân (3) | Trạch Hỏa Cách (49) | Trạch Thiên Quải (43) |
| 51 | Thuần Chấn | Thuần Tốn (57) | Thuần Cấn (52) | Thủy Sơn Kiển (39) |
| 52 | Thuần Cấn | Thuần Đoài (58) | Thuần Chấn (51) | Lôi Thủy Giải (40) |
| 53 | Phong Sơn Tiệm | Lôi Trạch Quy Muội (54) | Lôi Trạch Quy Muội (54) | Hỏa Thủy Vị Tế (64) |
| 54 | Lôi Trạch Quy Muội | Phong Sơn Tiệm (53) | Phong Sơn Tiệm (53) | Thủy Hỏa Ký Tế (63) |
| 55 | Lôi Hỏa Phong | Phong Thủy Hoán (59) | Hỏa Sơn Lữ (56) | Trạch Phong Đại Quá (28) |
| 56 | Hỏa Sơn Lữ | Thủy Trạch Tiết (60) | Lôi Hỏa Phong (55) | Trạch Phong Đại Quá (28) |
| 57 | Thuần Tốn | Thuần Chấn (51) | Thuần Đoài (58) | Hỏa Trạch Khuê (38) |
| 58 | Thuần Đoài | Thuần Cấn (52) | Thuần Tốn (57) | Phong Hỏa Gia Nhân (37) |
| 59 | Phong Thủy Hoán | Lôi Hỏa Phong (55) | Thủy Trạch Tiết (60) | Sơn Lôi Di (27) |
| 60 | Thủy Trạch Tiết | Hỏa Sơn Lữ (56) | Phong Thủy Hoán (59) | Sơn Lôi Di (27) |
| 61 | Phong Trạch Trung Phu | Lôi Sơn Tiểu Quá (62) | Phong Trạch Trung Phu (61) | Sơn Lôi Di (27) |
| 62 | Lôi Sơn Tiểu Quá | Phong Trạch Trung Phu (61) | Lôi Sơn Tiểu Quá (62) | Trạch Phong Đại Quá (28) |
| 63 | Thủy Hỏa Ký Tế | Hỏa Thủy Vị Tế (64) | Hỏa Thủy Vị Tế (64) | Hỏa Thủy Vị Tế (64) |
| 64 | Hỏa Thủy Vị Tế | Thủy Hỏa Ký Tế (63) | Thủy Hỏa Ký Tế (63) | Thủy Hỏa Ký Tế (63) |
