Lễ hội Dinh Thầy Thím là gì và diễn ra khi nào?
Lễ hội Dinh Thầy Thím là lễ hội truyền thống của cư dân làng Tam Tân, gắn với tín ngưỡng thờ hai vợ chồng đạo sĩ được dân gian kính cẩn gọi là Thầy và Thím. Lễ hội chính, còn gọi lễ Tế Thu hoặc lễ giỗ Thầy Thím, diễn ra từ ngày 14 tới ngày 16 tháng Chín âm lịch hằng năm1. Ngoài kỳ lễ này, Dinh Thầy Thím còn có một kỳ lễ khác là lễ Tảo mộ vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch1.
Dinh Thầy Thím tọa lạc giữa khu rừng dầu Bàu Cái, thuộc thôn Tam Tân1. Theo nguồn năm 2025 ghi nhận, địa chỉ hành chính hiện nay là xã Tân Hải, tỉnh Lâm Đồng; trước ngày 1/7/2025, nơi đây thuộc xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận12. Quần thể di tích gồm hai khu vực: khu dinh thờ tại rừng Bàu Cái và khu mộ Thầy Thím ở rừng Bàu Thông, cách dinh thờ khoảng 3 km về phía Tây. Khu mộ gồm mộ Thầy, mộ Thím, mộ đôi bạch hổ và Điện thờ Thầy Thím1.
Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnDinh Thầy Thím được Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 27/9/19972. Ngày 12/01/2022, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 62/QĐ-BVHTTDL đưa Lễ hội truyền thống Lễ hội Dinh Thầy Thím của tỉnh Bình Thuận vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia23.
Thầy Thím là ai theo lời kể của cư dân?
Thầy Thím là nhân vật truyền thuyết của cư dân địa phương, không phải nhân vật lịch sử có chứng cứ xác định danh tính. Theo lời kể lưu truyền, Thầy Thím là hai vợ chồng đạo sĩ tài đức, giàu lòng nhân ái, có nhiều công lao cứu giúp người dân nghèo trong cuộc sống1. Do không biết họ tên thật, sau khi hai người qua đời, nhân dân địa phương kính cẩn gọi là Thầy và Thím13.
Loại tri thức: Trường phái: Truyền thuyết dân gianDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnCác bản kể ghi nhận Thầy Thím có nhiều nghĩa cử cao đẹp: giúp dân đóng thuyền, bốc thuốc chữa bệnh, giúp dân chài trong sóng to gió lớn, cảm hóa được cả thú dữ2. Sự tích Thầy Thím được địa phương và các nguồn báo chí gọi là một truyền thuyết dân gian lưu truyền qua nhiều thế hệ, nội dung mang nhiều yếu tố tích cực và có giá trị giáo dục, đề cao tính nhân nghĩa, đạo đức, nhân cách cao cả2.
Loại tri thức: Trường phái: Thiết chế lễ hộiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTrong hệ thống thờ tự tại dinh, hai nhân vật truyền thuyết được ghi danh với mỹ hiệu: Thầy là "Chí Đức Tiên Sinh" và Thím là "Chí Đức nương nương Tôn Thần"2. Các mỹ hiệu này biểu trưng cho lòng nhân ái, khí tiết, cứu nhân độ thế đã ăn sâu trong lòng người dân địa phương2.
Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnCăn cứ vào truyền thuyết và những dòng văn tự Hán Nôm cổ chạm khắc trên thanh xà cò ở Chính điện, ghi "Kỷ Mão niên thập nhị nguyệt nhị thập ngũ nhật cấu tạo", có thể xác định niên đại tôn tạo dinh vào ngày 25/12/1879, tức năm Tự Đức thứ 321. Dinh thuở ban đầu được tạo dựng bằng tranh lá đơn sơ, sau được người dân địa phương đóng góp công sức để tôn tạo lại khang trang và bề thế1.
Trình tự ba ngày lễ 14, 15, 16 tháng Chín âm lịch
Nghi lễ trong lễ hội Dinh Thầy Thím đều do Ban Tế tự của dinh thực hiện1. Theo truyền thống, Ban Tế tự là những người do dân làng chọn ra, có uy tín, đạo đức, gia đình hòa thuận, gương mẫu, không có tang chế, am hiểu về tập tục và các lễ nghi liên quan đến tín ngưỡng dân gian truyền thống của cộng đồng1. Trước lễ hội, Ban Quản lý di tích họp bàn thống nhất kế hoạch, chương trình, huy động nguồn lực đóng góp của các tổ chức, cá nhân để phục vụ lễ hội và bầu chọn ra Ban Tế tự1.
| Ngày âm lịch | Nghi lễ | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Sáng 14 tháng Chín | Nghinh Thần, Nhập điện an vị | Đoàn lễ trong lễ phục truyền thống xuất phát từ dinh đến mộ Thầy Thím để thực hiện nghi lễ Nghinh Thần, rước Thầy Thím về dinh an vị, hưởng lễ1 |
| Sáng 15 tháng Chín | Dâng cộ bánh lên Thầy Thím | Bảy cộ bánh của bảy chi hội thuộc Hội Tam Quý được đặt trang trọng ở gian giữa nhà Võ ca trước Chính điện, sau đó phát cho người dân và du khách như lộc của Thầy Thím1 |
| Sau lễ dâng cộ bánh, ngày 15 | Cúng Ngọ | Cúng với lễ vật chay tại gian thờ Tiền Hiền và Chính điện1 |
| Sáng 16 tháng Chín | Thỉnh sanh | Nghi lễ diễn ra tại nhà Võ ca, lễ vật chính là một con heo đực toàn sắc, toàn sinh (còn sống) để tế thần1 |
| Ngày 16 tháng Chín | Tế Tiền hiền, chánh tế thần, cúng binh gia | Dâng tế các phẩm vật lên các vị Tiền hiền, Hậu hiền và ông bà, tổ tiên; chánh tế thần; cúng binh gia12 |
Nghi lễ Nghinh Thần và Nhập điện an vị diễn ra thế nào?
Sáng ngày 14, Ban Tế tự tổ chức đoàn lễ trong lễ phục truyền thống xuất phát từ dinh đến mộ Thầy Thím để thực hiện nghi lễ Nghinh Thần, tức rước Thầy Thím, về dinh an vị, hưởng lễ1. Đoàn lễ gồm xe hoa, cờ lễ, cờ hội, bát bửu, kiệu sắc phong, kiệu Bằng xếp hạng di tích, kiệu lễ sáu đầu rồng, tàn, lọng, trống, chiêng, nhạc lễ, Ban Tế tự, lân sư rồng, nhân dân và du khách tham gia trẩy hội1. Trên kiệu lễ có bài trí ngai nghinh, bình hoa, quả tử, chân đèn, bát nhang1.
Khi đến mộ Thầy Thím, đoàn lễ thỉnh sắc phong, Bằng xếp hạng di tích và kiệu lễ vào trước sân Điện thờ. Sau đó, Ban Tế tự thỉnh bát nhang nhập điện để thực hiện nghi lễ khấn báo, thỉnh mời Thầy Thím về dinh hưởng lễ1. Thực hiện xong nghi lễ Nghinh Thần tại Điện thờ chính, Ban Tế tự thỉnh bát nhang đặt lên kiệu lễ sáu đầu rồng để thỉnh Thầy Thím về dinh an vị, hưởng lễ. Trên đường nghinh rước, chiêng, trống, nhạc lễ và đội lân sư rồng liên tục hòa âm và diễn xướng tạo không khí trang nghiêm, nhộn nhịp1.
Theo một nguồn khác, lễ Thỉnh sắc được thay bằng lễ Nghinh thần với nghi thức thỉnh linh Thầy Thím từ mộ cách dinh theo đường vòng khoảng 7 cây số, và trước khi nhập điện thờ tại dinh, đoàn xe kiệu hoa, hương án đi qua làng Tam Tân, nơi xưa Thầy Thím đã có thời gian sinh sống và làm việc thiện cứu giúp dân nghèo2. Chỗ này các nguồn ghi khác nhau về khoảng cách đường rước: nguồn thứ nhất ghi khu mộ cách dinh thờ khoảng 3 km về phía Tây1, còn nguồn thứ hai ghi đường vòng khoảng 7 cây số2.
Rước Thầy Thím về đến dinh, Ban Tế tự thực hiện nghi lễ Nhập điện an vị. Ban Tế tự thỉnh sắc phong, Bằng xếp hạng di tích, bát nhang vào Chính điện; vị Chánh bái hai tay kính cẩn bưng bát nhang khấn vái trước khám thờ Thần ba lần rồi an vị bát nhang lên khám thờ Thầy Thím1. Trên khám thờ Thầy Thím bài trí sẵn hoa quả, trầu cau, trà nước, hương đèn, chè xôi1. Nghi lễ Nhập điện an vị diễn ra nhanh gọn với ba hồi chiêng, ba hồi chuông cổ, ba hồi trống và nhạc lễ hòa âm rộn rã, tiếp đó vị Chánh bái cầm ba nén hương khấn vái trước khám thờ Thần mời Thầy Thím an vị, hưởng lễ1.
Cộ bánh bảy tầng và nghi lễ Thỉnh sanh có gì đặc biệt?
Trước lễ hội, để thể hiện sự biết ơn, kính trọng của người dân địa phương đối với Thầy Thím, Ban Tổ chức phát động Hội thi làm cộ bánh để dâng lên Thầy Thím1. Dinh Thầy Thím do Hội Tam Quý của địa phương quản lý, Hội có bảy chi hội trực thuộc, đến kỳ lễ hội mỗi chi hội phải làm một cộ bánh dâng lên Thầy Thím1. Các cộ bánh có dạng hình tháp bảy tầng, cao từ 1,7 m tới 1,8 m, trang trí đèn, hoa trang trọng thể hiện tính sáng tạo, khéo léo của các nghệ nhân1.
Sáng ngày 15 là nghi lễ Dâng cộ bánh lên Thầy Thím. Bảy cộ bánh của bảy chi hội được đặt trang trọng ở gian giữa nhà Võ ca trước Chính điện. Sau ba hồi chuông mở đầu, ông Chánh bái cầm ba nén hương khấn báo, xin phép dâng các cộ bánh lên Thầy Thím. Sau đó, các cộ bánh được phát cho người dân và du khách như là lộc của Thầy Thím1. Tiếp theo là nghi lễ Cúng Ngọ với lễ vật chay tại gian thờ Tiền Hiền và Chính điện1.
Sáng ngày 16 là nghi lễ Thỉnh sanh diễn ra tại Chính điện. Tuy nhiên, do không gian Chính điện hẹp nên Ban Tế tự thực hiện nghi lễ này tại nhà Võ ca, nối tiếp Chính điện về phía trước1. Lễ vật chính trong nghi lễ này là một con heo đực toàn sắc, toàn sinh (còn sống) để tế thần1. Heo lễ đặt trên một chiếc giá gỗ ngay trước khám thờ chính nhà Võ ca1.
Loại tri thức: Trường phái: Tín ngưỡng dân gianDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnViệc hiến tế con heo toàn sắc còn sống trong nghi lễ Thỉnh sanh được xem như một sự tạ ơn của cộng đồng đối với Thần linh, cầu mong Thần linh bảo bọc, chở che và ban cho dân chúng những điều may mắn1. Phía trước cửa chính nhà Võ ca bày một bàn lễ vật để Chánh tế thực hiện nghi lễ. Ban Tế tự làm nghi thức dâng hương bên gian thờ Tiền hiền trước để khấn xin ông bà, tổ tiên cho phép dân làng được thực hiện nghi lễ Thỉnh sanh; sau đó di chuyển qua nhà Võ ca và Chính điện, nghi lễ Thỉnh sanh diễn ra theo lệnh của vị Xướng lễ1. Sau lễ tế, bổn hội, bổn vạn, bổn xã, viên quan, hương chức, người dân và du khách chứng kiến nghi lễ cùng vào dâng hương, khấn niệm, bái lạy trước các khám thờ1.
Cùng lúc này, Ban Tế tự cho đưa con heo vào sân phía trước Chính điện. Vị Chánh bái tiến đến nơi con heo đang nằm yên trên giá đỡ, tay cầm ba nén hương khấn xin phép Thầy Thím cho dân làng giết heo tế thần, lấy con dao đặt trên bàn lễ trước nhà Võ ca làm động tác cắt cổ heo tượng trưng1. Sau đó, con heo được đưa ra phía sau để thịt. Ban Tế tự lấy một chén huyết pha rượu và cạo một chùm lông heo bỏ vào để làm nghi thức Ế mao huyết, dâng lên Thầy Thím, mong Thầy Thím chứng giám và tống khứ những điều dơ bẩn, xấu xa, rủi ro ra khỏi xóm làng1. Heo sau khi làm lông sạch sẽ để nguyên con nằm úp, đưa vào đặt lên bàn, đầu quay về khám thờ chính trong nhà Võ ca để dâng tế Thầy Thím1.
Lễ vật dâng cúng và tập tục chọn heo toàn sắc
Lễ vật dâng cúng Thầy Thím, ông bà, tổ tiên trong lễ hội gồm những sản vật gắn với sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương, trong đó phải có một con heo toàn sắc để dâng tế Thần linh1. Trước năm 1975, con heo này phải đặt trước cho một gia đình có cuộc sống hòa thuận, uy tín với dân làng, không vướng tang chế, chăn nuôi từ nhỏ hết sức cẩn trọng1. Tuy nhiên, sau năm 1975 đến nay, tập tục này không còn; trước khi lễ hội diễn ra khoảng một tới hai tháng, Ban Quản lý dinh Thầy Thím tiến hành liên hệ, tìm kiếm, lựa chọn con heo toàn sắc đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định để dâng tế Thần linh1.
Loại tri thức: Trường phái: Truyền thống lễ hộiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTheo một nguồn khác, rạng ngày 16 tháng Chín âm lịch, lễ Thỉnh sanh bắt đầu, và nguồn này chú thích thêm rằng lễ còn được hiểu là lễ Tĩnh sanh, bởi "tĩnh" có nghĩa là trong sạch, tinh khiết, với lễ vật là một con heo sống thường là heo có bộ lông trắng tuyền2. Qua ngày hôm sau thì các phẩm vật cúng lễ được làm bằng món mặn cho đến hết chiều 16 tháng Chín, với nghi thức lễ sanh "Tạ thần cúc cung bái", đồng thời cũng là lễ Tiền hiền hậu hiền để tưởng nhớ các vị có công với làng, mang ý nghĩa "Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ"2.
Phần hội và các hoạt động văn hóa dân gian
Ngoài các nghi thức truyền thống như lễ Nghinh Thần, rước sắc phong, lễ Nhập điện an vị, thỉnh thực, giỗ Tiền Hiền và cúng binh gia, lễ hội Dinh Thầy Thím còn tổ chức các trò chơi dân gian đậm nét xứ biển như khiêng thúng ra khơi, hội thi gánh cá, đan lưới, kéo co, đánh cờ người2. Bên cạnh phần lễ, người dân và du khách còn cùng tham gia các hoạt động vui chơi như hội thi làm bánh, thi đấu cờ người, thi khiêng thúng ra khơi, thi gánh cá, đan lưới, chương trình tạp kỹ3.
Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnĐêm khai hội được mô tả là đầy sắc màu văn hóa dân gian, trở thành một phần hội hoành tráng nhất trong chuỗi lễ hội. Nghi thức lễ trang trọng bắt đầu từ lễ dâng hương tri ân công đức Thành hoàng, tiền hiền hậu hiền, với mục đích giáo dục lòng yêu quê hương, sống đạo nghĩa, tỏ lòng biết ơn các bậc tiền bối cũng như tạo điểm nhấn văn hóa thu hút du khách2. Chương trình có sân khấu hóa về sự tích Thầy Thím, mô hình giới thiệu cuộc đời và công đức của Thầy Thím, quầy khám chữa bệnh và cấp phát thuốc Đông y miễn phí, giới thiệu những kỹ năng đóng thuyền đi biển của Thầy, cùng những địa danh gắn liền với truyền thuyết như Bàu Cát, tượng Bạch Hổ, Hắc Hổ, nhà ông Hai Hộ2.
Lễ Nhập điện an vị không chỉ diễn ra với những nghi lễ trang trọng mà còn có những tiết mục biểu diễn nghệ thuật dân gian như chèo bả trạo, tuồng cổ, hò vè2. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, lễ hội Dinh Thầy Thím đã trở thành điểm đến có sức thu hút du khách; không chỉ đến dịp lễ hội mà bất cứ thời điểm nào trong năm cũng có hàng nghìn lượt khách đến hành hương kết hợp du lịch2.
Về lượng khách, hai nguồn cùng đưa con số ước khoảng 600.000 khách mỗi năm23. Đây là con số ước tính của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận ghi nhận trong các bản tin năm 2022, không phải số liệu thống kê chính thức theo niên giám.
Vì sao lễ hội gắn với biển và vùng đất Tam Tân?
Lễ hội Dinh Thầy Thím ra đời, duy trì và tồn tại gắn liền với lịch sử hình thành các tập quán liên quan đến tín ngưỡng thờ Thầy Thím của cộng đồng người dân địa phương hơn 130 năm qua2. Cũng từ lòng sùng kính uy linh Thầy Thím để thể hiện sự tri ân tiền nhân dày công khai mở vùng đất này, người dân địa phương chung tay lập đền thờ tại nơi Thầy Thím tạ thế trong khu rừng dầu Bàu Cái và chọn ngày 15 tháng Chín âm lịch hằng năm làm ngày lễ Tế Thu kính viếng Thành hoàng2.
Loại tri thức: Trường phái: Tín ngưỡng dân gianDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTập tục cúng tế tại đây là tín ngưỡng dân gian, một sinh hoạt tâm linh truyền thống; dù có những thay đổi về hình thức cũng nhằm phù hợp với quá trình phát triển của xã hội nhưng vẫn bảo tồn được không khí linh thiêng và ý nghĩa nhân văn2. Trong phần nghi thức lễ có những nội dung cơ bản của nghi lễ cúng tế đình làng2.
Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnTừ lễ hội nhỏ của làng, lễ hội đã trở thành lễ hội lớn của khu vực; từ lực lượng hội viên chủ yếu là người làng đến những hội viên trong và ngoài tỉnh; từ dinh Thầy Thím xuống cấp trầm trọng sau chiến tranh đến di tích được bảo tồn chu đáo là cả một quá trình2. Quá trình đó đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử, song thể hiện được một định hướng lâu dài của sự phát triển di tích2.
