
TL;DR: Phật giáo không có một bảng ngày vía chung; mỗi truyền thống, mỗi chùa ghi có chỗ khác nhau. Ở các chùa Bắc tông Việt Nam, những ngày thường nhắc gồm mùng 1 tháng Giêng (Di Lặc), 19 tháng 2, 19 tháng 6 và 19 tháng 9 (Quan Âm), 21 tháng 2 (Phổ Hiền), mùng 4 tháng 4 (Văn Thù), mùng 8 tháng 4 (Phật Thích Ca đản sinh), 30 tháng 7 (Địa Tạng), 17 tháng 11 (A Di Đà) và mùng 8 tháng Chạp (Phật thành đạo). Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện cử hành Đại lễ Phật đản chính vào rằm tháng Tư. Tụng kinh, lễ Phật hay phóng sinh vào những ngày này là thực hành tùy duyên, không bắt buộc.
Ngày vía Phật, Bồ Tát là gì và vì sao có nhiều cách tính khác nhau?
Ngày vía là ngày kỷ niệm một vị Phật, Bồ Tát hay thần, thường là ngày đản sinh, cũng có khi là ngày xuất gia hay thành đạo, theo truyền thống của từng chùa, từng tông phái. Không có một bảng ngày vía chung cho toàn bộ Phật giáo; ngay năm sinh của Đức Phật Thích Ca cũng được các nguồn ghi khác nhau. Sách Phật lục của Trần Trọng Kim chép rằng theo các kinh Đại thừa bên Tàu, Phật sinh ngày mồng 8 tháng tư năm thứ 26 đời vua Chiêu vương nhà Chu, tức năm 1027 trước Tây lịch, còn các nhà khảo cứu Âu Tây và Nhật Bản công nhận Ngài sinh vào khoảng năm 560 trước Tây lịch; về ngày, sách viết: "Còn ngày Phật giáng đản, thì thường nhận là ngày mồng tám tháng tư"[1].
Các nước theo Nam tông như Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào làm lễ Vesak vào ngày rằm tháng Vesākha (khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 dương lịch), gộp chung kỷ niệm đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn. Phật giáo Bắc tông ở Trung Hoa, Triều Tiên lấy mùng 8 tháng 4 âm lịch làm ngày Phật đản. Ở Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện cử hành Đại lễ Phật đản chính vào rằm tháng Tư âm lịch, với tuần lễ Phật đản từ mùng 8 tới rằm tháng Tư, nên cả hai ngày đều có lễ.
Những ngày vía Phật và Bồ Tát phổ biến trong năm âm lịch
Dưới đây là các ngày vía thường được nhắc trong các chùa Bắc tông ở Việt Nam, đặt cạnh bảng ngày thánh đản chép trong một bản Ngọc hạp ký (玉匣記), sách lịch xem ngày của Trung Hoa được truyền thống quy cho Hứa chân quân, có bài tựa năm 1433. Tên gọi và ngày tháng có thể khác nhau giữa các địa phương và các dòng truyền thừa.
| Tháng âm lịch | Ngày | Vị được tưởng niệm | Ngọc hạp ký ghi |
|---|---|---|---|
| Tháng Giêng | Mùng 1 | Phật Di Lặc (đản sinh) | 彌勒佛聖誕 (thánh đản Phật Di Lặc) |
| Tháng 2 | Mùng 8 | Phật Thích Ca (xuất gia) | 釋迦文佛出家 (Phật Thích Ca xuất gia) |
| Tháng 2 | 19 | Bồ Tát Quan Thế Âm (đản sinh) | 觀音菩薩聖誕 (thánh đản Quan Âm) |
| Tháng 2 | 21 | Bồ Tát Phổ Hiền (đản sinh) | 普賢菩薩聖誕 (thánh đản Phổ Hiền) |
| Tháng 4 | Mùng 4 | Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (đản sinh) | 文殊菩薩聖誕 (thánh đản Văn Thù) |
| Tháng 4 | Mùng 8 | Phật Thích Ca (đản sinh) | 釋迦文佛聖誕 (thánh đản Phật Thích Ca) |
| Tháng 4 | 15 | Đại lễ Phật đản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam | 成道 (thành đạo) |
| Tháng 6 | 19 | Bồ Tát Quan Thế Âm (thành đạo) | 觀音菩薩成佛 (Quan Âm thành Phật) |
| Tháng 7 | 13 | Bồ Tát Đại Thế Chí (đản sinh) | 大勢至菩薩聖誕 (thánh đản Đại Thế Chí) |
| Tháng 7 | 30 | Bồ Tát Địa Tạng (đản sinh) | 地藏王菩薩聖誕 (thánh đản Địa Tạng) |
| Tháng 9 | 19 | Bồ Tát Quan Thế Âm (xuất gia) | Không ghi |
| Tháng 9 | 30 | Phật Dược Sư (đản sinh) | 琉璃光王佛聖誕 (thánh đản Lưu Ly Quang Vương Phật) |
| Tháng 11 | 17 | Phật A Di Đà (đản sinh) | 阿彌陀佛聖誕 (thánh đản Phật A Di Đà) |
| Tháng Chạp | Mùng 8 | Phật Thích Ca (thành đạo) | 釋迦佛成佛 (Phật Thích Ca thành Phật) |
Bảng cho thấy hai chỗ các truyền thống ghi khác nhau. Bản Ngọc hạp ký này không có ngày 19 tháng 9 của Quan Âm, và ngoài ngày Phật thành Phật mùng 8 tháng Chạp, sách còn ghi ngày 15 tháng 4 là ngày thành đạo (成道), ngay sau dòng Phật Thích Ca đản sinh. Tháng Bảy âm lịch có năm chỉ có 29 ngày; năm ấy lịch không có ngày 30 của vía Địa Tạng. Một số chùa còn có ngày vía của các vị như Thiên Hậu, Quan Thánh, Ngọc Hoàng, tùy theo điện thờ của chùa đó.
Vì sao Quan Âm có đến ba ngày vía trong năm?
Trong các chùa Bắc tông ở Việt Nam, Bồ Tát Quan Thế Âm có ba ngày vía: 19 tháng 2 (đản sinh), 19 tháng 6 (thành đạo) và 19 tháng 9 (xuất gia). Bản Ngọc hạp ký nói trên mới ghi hai ngày, 19 tháng 2 là thánh đản (觀音菩薩聖誕) và 19 tháng 6 là ngày thành Phật (觀音菩薩成佛). Sách Phật lục của Trần Trọng Kim kể truyện Diệu Thiện, người con gái thứ ba đi tu đắc đạo có tướng nghìn tay nghìn mắt, rồi viết rằng về sau có nhà làm tiểu thuyết nhân truyện ấy đặt ra truyện vua Trang vương nước Sở có ba người con gái, người con út tên là Diệu Thiện đi tu thành Phật, và người Việt cũng nhân truyện ấy làm ra truyện Phật bà Quan Âm tu ở động Hương Tích[1]. Ngày 19 tháng 9 được thêm vào từ bao giờ thì chưa rõ.
Ở các hội quán người Hoa tại Thừa Thiên Huế, ngoài ngày vía Bà Thiên Hậu là lễ chính, còn có ngày vía Quan Thánh Đế Quân (13 tháng Ba và 24 tháng Sáu âm lịch), ngày vía Ngọc Hoàng Thượng đế (9 tháng Giêng âm lịch) và ngày vía Phật Bà Quan Âm (19 tháng 2 âm lịch)[2].
Bản Ngọc hạp ký nói trên cũng ghi mùng 9 tháng Giêng là thánh đản Ngọc Hoàng (玉皇上帝聖誕) và 24 tháng Sáu là thánh đản Quan Vương (關王聖誕).
Ngày vía Phật Đản và tục phóng sinh: nên hiểu thế nào cho đúng?
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng ghi Phật "sinh bấy giờ là ngày mồng tám tháng tư, nhưng không tường về năm nào"[5].
Trong dân gian, nhiều người chọn ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch để đi chùa lễ Phật, tụng kinh và phóng sinh. Sách lịch Ngọc hạp ký gắn phóng sinh với ngày vía bằng lối tính công đức: ở tháng Mười, sách ghi ngày mùng 8 là ngày niết bàn (涅盤), khác với ngày rằm tháng 2 mà nhiều chùa làm lễ Phật nhập niết bàn, và viết "此日放生一個比常日放生十千萬功德", nghĩa là phóng sinh một con vào ngày ấy thì công đức gấp mười nghìn vạn lần ngày thường. Đây là lời của một sách lịch, không phải lời kinh.
Phóng sinh không đúng cách, như thả loài vật vào nơi chúng không sống được, có thể làm chúng chết, trái với lòng từ mà việc phóng sinh nhắm tới.
Ý nghĩa của việc tưởng niệm ngày vía trong đời sống Phật tử
Ngày vía không phải là ngày cúng tế để cầu xin ân huệ, mà là dịp để người Phật tử nhớ đến hạnh nguyện của các vị Phật, Bồ Tát và tự soi lại mình. Trong kinh Duy-ma-cật và kinh Viên giác, các vị Bồ Tát có mặt trong pháp hội nghe Phật thuyết pháp; kinh Viên giác mở đầu với Đức Thế Tôn cùng các Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền, Phổ Nhãn, Kim Cang Tạng, Di Lặc[3][4].
Sách Việt Nam phong tục chép ở mục Hội chư bà: chư bà là những người đàn bà từ năm mươi tuổi trở lên, hoặc đã có tuổi mà góa chồng, vào hội quy y Phật; "Mỗi tháng về ngày sóc ngày vọng lên chùa lễ Phật"[5]. Ngày sóc (mồng một) và ngày vọng (rằm) là nhịp lễ Phật hằng tháng ở làng quê, bên cạnh các ngày vía trong năm.
Có nên chỉ đi chùa vào ngày vía không?
Hội thứ năm của Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông viết: "Bụt ở cong nhà; chẳng phải tìm xa" (cong là trong), tức Phật ở ngay trong mình. Theo tinh thần ấy, ngày vía là dịp để nhắc nhở, không phải điều kiện bắt buộc để được phước.
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi chọn ngày vía để đi chùa
Gợi ý của Nhật Nguyệt: Nếu bạn muốn đến chùa vào ngày vía, hãy chọn ngày phù hợp với điều kiện thời gian và sức khỏe của mình. Điều quan trọng là giữ tâm thành kính và hiểu đúng ý nghĩa của việc lễ Phật, không nên chạy theo số lượng ngày vía hay hình thức cúng bái. Bạn có thể tham khảo lịch sinh hoạt của chùa gần nhà để biết chính xác ngày tổ chức lễ vía. Nếu không có điều kiện đến chùa, việc tụng kinh, niệm Phật tại nhà vào những ngày này cũng là cách thực hành tốt.
Các ngày vía có ý nghĩa gì trong đời sống tâm linh người Việt?
Nghiên cứu của Trần Thị Lan Hương và Hoàng Thị Mỹ Nhị (2024) ghi rằng trước diễn biến của đại dịch Covid-19, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có văn bản hướng dẫn chuẩn bị Đại lễ Phật đản năm 2020, yêu cầu các tỉnh, thành không tổ chức lễ đài tập trung, không rước xe hoa; năm 2020 nhiều nghi lễ giảm quy mô và chuyển sang hình thức trực tuyến[8].
Nghiên cứu của Trần Diễm Thùy (2019) về nghi lễ tống ôn, tống gió ở Đồng bằng sông Cửu Long ghi rằng do ảnh hưởng của Phật giáo, nghi lễ này nay tích hợp cả cầu an, cầu siêu và thường được tổ chức vào những ngày lễ lớn của Phật giáo như rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy[9].
