Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Lễ hội truyền thống

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười (Nghệ An): chính hội ngày 10/10 âm lịch, tín ngưỡng thờ Mẫu và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Chia sẻ:
Lễ hội đền Ông Hoàng Mười (Nghệ An): chính hội ngày 10/10 âm lịch, tín ngưỡng thờ Mẫu và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
TL;DR: Lễ hội đền Ông Hoàng Mười tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An có chính hội vào ngày 10 tháng Mười âm lịch, tức ngày hóa của Quan Hoàng Mười theo truyền thuyết địa phương. Lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng, gồm các nghi lễ khai quang, rước sắc, yết cáo, đại tế và tạ. Năm 2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa lễ hội vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2970/QĐ-BVHTTDL.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười diễn ra khi nào và ở đâu?

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười diễn ra tại đền Ông Hoàng Mười và nhà thờ họ Nguyễn ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Chính hội được tổ chức vào ngày 10 tháng Mười âm lịch, theo truyền thuyết địa phương đây là ngày hóa của Quan Hoàng Mười. Trước đó, từ ngày 8 tháng Mười đã bắt đầu các nghi lễ khai quang và mộc dục, ngày 9 tháng Mười có lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền.

Theo hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, lễ hội gắn với lịch sử của đền từ thế kỷ XVII thời Lê Trung Hưng. Sau khi ngôi đền được phục dựng lại vào năm 1995, người dân làng Xuân Am tập trung tổ chức lễ hội chính vào dịp 10 tháng Mười âm lịch, còn ngày 15 tháng Ba âm lịch chỉ thắp hương và dâng lễ. Ngày 10 tháng Mười âm lịch cũng trùng với tết Trùng thập, tết cơm mới và tết Hạ nguyên, được xem là ngày tròn trịa, viên mãn.

Quan Hoàng Mười là ai trong hệ thống Đạo Mẫu?

Trong hệ thống Đạo Mẫu, Quan Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình và thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh Vua cha, ông giáng trần để giúp dân, phù đời, được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh và được đặc cách toàn quyền kiểm soát khâm sai ở xứ Nghệ. Ông Hoàng Mười là vị linh thần ở hàng thứ ba trong hệ thống thần linh của điện thần Tứ phủ, được coi là vị thánh chuyên ban lộc về công danh.

Tại đền còn lưu truyền sự tích về Ngài với thân thế gắn với làng Xuân Am, tổng Yên Đổ, phủ Hưng Nguyên xưa. Theo hồ sơ di sản, Ngài được mô tả là người văn võ toàn tài, có công dựng nền thịnh trị, ổn định cuộc sống cho nhân dân quanh vùng, quan tâm và giúp đỡ những người dân lao động nghèo khó, là một vị tướng tài có công lớn trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn. Ngài bị thương nặng, phi ngựa về đến quê nhà thì mất, dân làng chưa kịp mai táng thì mối đã đùn đất lên quanh thi hài thành một ngôi mộ. Triều đình và nhân dân thương tiếc lập đền thờ bên cạnh ngôi mộ để tưởng niệm.

Công lao của Quan Hoàng Mười đã được các triều đại phong kiến ghi nhận, ban cho các thần hiệu dài, trong đó có các chức danh như Khâm Sai Tiết Chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa Đẳng Xứ, Kiêm Thủy Bộ Chư Dinh, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Úy, Vị Quốc Công.

Quan Hoàng Mười được đồng nhất với những nhân vật lịch sử nào?

Tương truyền, Ngài là hóa thân của các vị Lý Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Xí và Nguyễn Duy Lạc, những nhân vật lịch sử gắn bó với xứ Nghệ, có nhiều công trạng với nước với dân và có thân thế gần giống như Quan Hoàng Mười. Theo hồ sơ di sản, việc lịch sử hóa, địa phương hóa Ông Hoàng Mười thành các nhân vật lịch sử như vậy cho thấy sự linh hoạt trong việc thể hiện truyền thống tôn vinh những người có công với quê hương đất nước của cư dân xứ Nghệ, nhắc nhở người đời sau về đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Cần lưu ý rằng đây là các lớp truyền thuyết và đồng nhất khác nhau được lưu truyền tại địa phương, không phải một nhân thân lịch sử duy nhất được xác tín. Các nguồn tư liệu hiện có ghi nhận sự đa dạng của những lớp truyền thuyết này chứ không khẳng định chỉ có một cách hiểu.

Các nghi lễ chính của lễ hội đền Ông Hoàng Mười gồm những gì?

Theo hồ sơ di sản, các nghi lễ chính của hội gồm lễ khai quang và mộc dục vào ngày 8 tháng Mười, lễ rước sắc vào ngày 9 tháng Mười, lễ yết cáo, lễ đại tế và lễ tạ. Mỗi nghi lễ có vai trò riêng trong việc mở hội, rước thần và kết thúc hội.

Lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền Hoàng Mười diễn ra vào chiều ngày 9. Từ thời phong kiến, sắc phong thần của đền được giao cho dòng họ Nguyễn trông coi và lưu giữ. Khi làng tổ chức hội thì rước sắc ra đền, xong hội lại rước về nhà thờ. Hiện nhà thờ họ Nguyễn lưu giữ 18 sắc phong gốc, trong đó 15 sắc phong còn nguyên bản. Trước năm 1975, khi chưa có đường lớn, lễ rước sắc di chuyển bằng thuyền trên sông Cồn Mộc; ngày nay đường thuận tiện nên đoàn rước đi bằng đường bộ.

Ban lễ nghi và đội hình nghi lễ là những người trong gia đình không có tang, giữ mình thanh sạch. Đoàn rước gồm cộng đồng làng xã mang theo trống chiêng, cờ quạt, kiệu bành, kiệu long đình và lễ vật, tập trung tại nhà thờ họ Nguyễn. Ông tộc trưởng họ Nguyễn làm lễ xin rước sắc về đền tổ chức lễ hội, trao sắc và lư hương cho Ban lễ nghi đặt lên kiệu long đình để rước về đền. Về đến đền, kiệu được hạ xuống sân đền, chủ tế rước hộp sắc vào làm lễ an vị tại Thượng điện.

Sáng ngày 10, dân làng làm lễ đại tế với lễ tuyên sắc và lễ tế. Hộp sắc trong Thượng điện được rước ra Hạ điện, chủ tế mở hộp sắc, lấy hai đạo sắc gồm một đạo thời Lê và một đạo thời Nguyễn ra đọc nội dung. Tuyên sắc xong, sắc phong được để lại hộp và rước vào yên vị như cũ. Sau đó là lễ tế, dân làng và du khách dâng hương. Buổi tối là lễ tạ Quan Hoàng Mười và các vị thần linh đã phù hộ cho hội; sau đó sắc lại được rước về nhà thờ họ Nguyễn, cúng báo với thần thánh và tổ tiên rằng lễ hội đã hoàn tất.

Nghi lễThời điểmNội dung chính
Khai quang, mộc dụcNgày 8 tháng Mười âm lịchLàm lễ mở đầu, thanh tẩy
Rước sắcChiều ngày 9 tháng Mười âm lịchRước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền, an vị tại Thượng điện
Yết cáoTrong kỳ hộiBáo cáo với thần linh
Đại tế, tuyên sắcSáng ngày 10 tháng Mười âm lịchRước hộp sắc ra Hạ điện, đọc hai đạo sắc thời Lê và thời Nguyễn, sau đó tế lễ
TạBuổi tối ngày 10 tháng Mười âm lịchLễ tạ thần linh, rước sắc về nhà thờ họ Nguyễn

Hầu đồng Quan Hoàng Mười có gì đặc biệt so với các nơi khác?

Nét đặc sắc của lễ hội đền Hoàng Mười là các hoạt động gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, trong đó có diễn xướng nghi lễ hầu đồng. Ông Hoàng Mười thường xuyên giáng đồng, ngự trong thời gian lâu và xuất hiện sau các giá Quan và giá Chầu. Nghi lễ hầu đồng thu hút khách thập phương về dự; mỗi năm đền đón khoảng 400 đến 500 nhóm đến thực hành tín ngưỡng, chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc và một số ở phía Nam. Từ tháng 8 đến tháng Mười âm lịch, nghi lễ hầu đồng được thực hành thường xuyên tại đền.

Theo hồ sơ di sản, hầu đồng Quan Hoàng Mười tại Nghệ An có những nét đặc sắc khác biệt với các bài hát chầu văn ca ngợi công danh hiển hách của Quan Hoàng Mười, được cung văn tấu theo lối hát dân ca Nghệ Tĩnh. Ngài xuất hiện với phong cách đặc trưng của người con xứ Nghệ, đại diện cho cốt cách, khí phách con người xứ Nghệ: oai hùng, xông pha trận mạc, hào hoa, phong nhã, lãng mạn, yêu văn chương thơ phú. Đây là mô tả của hồ sơ tư liệu về phong cách diễn xướng tại địa phương, không phải một đánh giá so sánh hơn kém giữa các vùng.

Vì sao hầu đồng gắn với ngày 10 tháng Mười âm lịch?

Theo hồ sơ di sản, ngày 10 tháng Mười âm lịch được xem là ngày hóa của Quan Hoàng Mười, đồng thời là dịp tết cơm mới, tết Trùng thập và tết Hạ nguyên, cũng là ngày lễ của những người thực hành nghi lễ hầu đồng. Người dân tin đây là ngày tròn trịa, viên mãn, mang lại nhiều điều tốt đẹp. Chính vì vậy, sau khi đền được phục dựng năm 1995, lễ hội chính được tập trung tổ chức vào dịp này thay vì chỉ duy trì lễ Tự điển ngày 15 tháng Ba âm lịch như trước.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười có từ bao giờ?

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười được hình thành và tồn tại cùng với lịch sử của đền từ thế kỷ XVII, thời Lê Trung Hưng, nhằm tưởng nhớ và tri ân công đức của Quan Hoàng Mười. Theo bản Xuân Am thôn tục lệ hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các triều đại phong kiến đều ban sắc phong thần cho các vị thần được thờ phụng tại đây. Triều đình giao cho làng Xuân Am trách nhiệm tòng tiền phụng sự các vị thần, được quy định nghiêm ngặt trong bản hương ước của làng.

Ngoài các ngày lễ tết và ngày rằm hàng tháng phải cúng bái chu đáo, làng còn có lễ Tự điển vào ngày 15 tháng Ba âm lịch được tổ chức có quy mô lớn với đầy đủ các nghi lễ như lễ rước, lễ yết cáo, lễ đại tế. Nhân dân trong làng Xuân Am duy trì thực hành đều đặn hàng năm và coi đây như ngày hội lớn của làng. Từ năm 1995, sau khi ngôi đền được phục dựng lại, lễ hội có sự thay đổi như đã nêu ở trên.

Ngoài phần lễ, lễ hội còn có những hoạt động nào?

Bên cạnh các nghi lễ, lễ hội còn có các trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, đánh cờ người, thả đèn hoa đăng, cùng hoạt động trưng bày sản phẩm các làng nghề truyền thống và các hoạt động thể thao. Theo hồ sơ di sản, lễ hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân nơi đây. Tham gia lễ hội và các trò chơi tập thể là dịp người dân gặp gỡ, giao lưu, thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng. Lễ hội còn có vai trò trong đời sống kinh tế của cộng đồng dân cư địa phương, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội nâng cao đời sống vật chất.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười được công nhận di sản khi nào?

Với giá trị tiêu biểu, Lễ hội đền Ông Hoàng Mười được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2970/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 8 năm 2019. Việc công nhận này đặt lễ hội vào hệ thống di sản được nhà nước quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định về di sản văn hóa.

Theo hồ sơ di sản, lễ hội bảo lưu những phong tục tín ngưỡng và nghi lễ truyền thống, tái hiện lại sự tích, thân thế, công trạng của các nhân vật lịch sử như Quan Hoàng Mười hay Lý Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Nguyễn Duy Lạc, giúp người dân hiểu về lịch sử và truyền thống quê hương. Nghi lễ hầu đồng bảo lưu, nuôi dưỡng hình thức nghệ thuật hát văn và góp phần giáo dục thế hệ trẻ về công lao của các anh hùng dân tộc.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về lễ hội này

Thứ nhất, các thông tin về thân thế Quan Hoàng Mười tồn tại ở nhiều lớp: vừa là vị thần trong hệ thống Đạo Mẫu, vừa được đồng nhất với các nhân vật lịch sử khác nhau. Người đọc nên phân biệt giữa truyền thuyết, sự tích lưu truyền tại địa phương và tư liệu lịch sử được kiểm chứng.

Thứ hai, mốc thời gian tổ chức lễ hội đã thay đổi qua các giai đoạn. Trước đây lễ Tự điển ngày 15 tháng Ba âm lịch là dịp lễ lớn của làng; từ sau năm 1995, lễ hội chính chuyển sang ngày 10 tháng Mười âm lịch. Đây là thay đổi được ghi nhận trong hồ sơ di sản chứ không phải suy đoán.

Thứ ba, lễ hội gắn chặt với tín ngưỡng thờ Mẫu và thực hành hầu đồng, một loại hình tín ngưỡng dân gian có lịch sử lâu đời ở Việt Nam. Việc tìm hiểu nên đặt trong bối cảnh văn hóa tín ngưỡng, tránh quy kết hoặc đánh giá theo tiêu chí của lĩnh vực khác.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười tổ chức vào ngày nào?

Chính hội diễn ra vào ngày 10 tháng Mười âm lịch, được xem là ngày hóa của Quan Hoàng Mười. Trước đó, ngày 8 tháng Mười có lễ khai quang và mộc dục, chiều ngày 9 tháng Mười có lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền. Trước năm 1995, lễ lớn của làng là lễ Tự điển ngày 15 tháng Ba âm lịch; sau khi đền được phục dựng, lễ hội chính chuyển sang ngày 10 tháng Mười.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia khi nào?

Lễ hội được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2970/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 8 năm 2019.

Quan Hoàng Mười là ai và có vai trò gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?

Trong hệ thống Đạo Mẫu, Quan Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình, giáng trần giúp dân và được giao trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh. Ông là vị linh thần hàng thứ ba trong điện thần Tứ phủ, được coi là vị thánh chuyên ban lộc về công danh, thường giáng đồng trong các giá sau Quan và Chầu.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Cục Di sản văn hóa - Lễ hội Đền Ông Hoàng Mười

Nội dung này có giúp được bạn không?

#LễHộiĐềnÔngHoàngMười#ĐềnÔngHoàngMười#NghệAn#TínNgưỡngThờMẫu#HầuĐồng#DiSảnVănHóaPhiVậtThểQuốcGia#LễHộiTruyềnThống